vanban.org

Bản án 219/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Ái L được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

Giấy chứng nhận kết hôn số 51/2022 ngày 08/3/2022 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau không còn giá trị pháp lý. Về con chung: Anh H nuôi con tên Nguyễn Minh T, sinh ngày 14/9/2021 hiện đang ở cùng anh, phần cấp dưỡng không yêu cầu nên không xem xét.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Ái L được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 219/2023/HNGĐ-ST
Ngày 14-7-2023
V/v tranh chấp xin ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Việt Xô.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Xuân Minh.

Bà Lâm Yến Nhi.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Cẩm Hường là Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

Ngày 14 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 400/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2023 về “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 236/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ái L, sinh năm 2000 (có yêu cầu vắng mặt).

Địa chỉ: B, Thôn C, xã S, huyện H, Thành phố Hà Nội.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1993 (có yêu cầu vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp L, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án chị Nguyễn Thị Ái L trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn H tự nguyện thành hôn vào năm 2021, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau vào năm 2022. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do bất đồng quan điểm, lối sống, không tự giải quyết được và tự sống riêng với nhau, do không thể hàn gắn được nên chị yêu cầu ly hôn với anh H.

Thời gian chung sống, chị và anh H có 01 con chung tên Nguyễn Minh T, sinh ngày 14/9/2021, hiện con đang ở cùng anh H; sau khi ly hôn chị thống nhất giao con cho anh H nuôi và yêu cầu được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con theo quy định; không đặt ra việc cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung, nợ chung không có; chị yêu cầu vắng mặt khi giải quyết vụ án.

Bị đơn anh Nguyễn Văn H trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Ái L tự nguyện thành hôn vào năm 2021 là đúng, có đăng ký kết hôn như chị L trình bày. Do có sự bất đồng quan điểm, lối sống, tính tình không hòa hợp nhau dẫn đến hôn nhân không còn hạnh phúc nên anh đồng ý ly hôn với chị L.

Vợ chồng có 01 con chung như chị L trình bày, sau khi ly hôn anh yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung không có; anh yêu cầu vắng mặt khi giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Vụ việc theo yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ái L được Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Nguyễn Thị Ái L và anh Nguyễn Văn H có yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị L và anh H.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh H được xác lập vào năm 2021, có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập có hiệu lực nên hôn nhân được xác định là hợp pháp, nay có yêu cầu ly hôn, Tòa án căn cứ vào những quy định về chấm dứt hôn nhân theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết.

Thời gian chị L và anh H chung sống thực tế có xảy ra mâu thuẫn, chủ yếu là bất đồng quan điểm, lối sống, không tin tưởng lẫn nhau và không tự giải quyết được, làm cho cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Thời gian kéo dài đôi bên vẫn không tìm được biện pháp hữu hiệu để xoa dịu mâu thuẫn nhằm hàn gắn lại tình cảm vợ chồng, quá trình giải quyết vụ án chị L và anh H đều xác định không thể tiếp tục sống chung và thống nhất ly hôn với nhau. Thực tế, đã có sự vi phạm nghiêm trọng về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của chị L được ly hôn với anh H là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị L và anh H có 01 con chung đang ở cùng anh H, sau khi ly hôn chị L thống nhất giao con cho anh H nuôi, anh H có yêu cầu nuôi con; như vậy các đương sự đã thỏa thuận được việc nuôi con và sự thỏa thuận của các đương sự không trái với quy định của pháp luật, căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận giao con cho anh H nuôi. Phần cấp dưỡng đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Chị L không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con theo quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị L và anh H xác định không có và không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ái L là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Phần tạm ứng án phí chị L đã nộp được khấu trừ.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228; Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Ái L được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

Giấy chứng nhận kết hôn số 51/2022 ngày 08/3/2022 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Anh H nuôi con tên Nguyễn Minh T, sinh ngày 14/9/2021 hiện đang ở cùng anh, phần cấp dưỡng không yêu cầu nên không xem xét.

Chị L có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của anh H.

Vì lợi ích của con chưa thành niên nên chị L có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và anh H có quyền yêu cầu cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch chị Nguyễn Thị Ái L phải chịu 300.000 đồng, chị L đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006871 ngày 13/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được khấu trừ.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ