- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Minh P tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Minh P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 219/2022/HS-ST Ngày: 28-7-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Văn Thậm
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Huỳnh Ngọc Thi;
- Bà Nguyễn Thị Kim Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tú – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R tham gia phiên tòa: Ông Trần Chí Thức - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2021 theo Thông báo mở phiên tòa xét xử vụ án hình sự sơ thẩm số 64/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:
Phạm Minh P, sinh năm 1994. Nơi sinh: thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Nơi ĐKTT và chỗ ở: Số 550 N, khu phố 3, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Đ, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1961; anh ruột: Phạm Văn C, sinh năm 1984; vợ: Đặng Thị L, sinh năm 1993; con: Có 02 người, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Chưa.
Ngày 27/12/2020, bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị tạm giữ từ ngày 28/12/2020. Đến ngày 01/01/2021, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R khởi tố, tạm giam theo Lệnh số 01. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố R. Bị cáo có mặt tại tòa.
* Người chứng kiến:
1. Trần Chí T, sinh năm 1967 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 33/24/2 C, khu phố 2, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
2. Nguyễn Thị Băng T, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 352 N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 27/12/2020, do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên Phạm Minh P mượn điện thoại của một người bạn (không rõ nhân thân, lai lịch), gọi cho một người đàn ông tên P (chưa rõ tên thật, địa chỉ) hỏi mua một bịch ma túy đá với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) thì P đồng ý và hẹn giao dịch ma túy tại khu vực Công viên An Hòa, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Sau đó, P điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter, biển kiểm soát 68C1-108.29, là xe của P mượn của anh Nguyễn Chí T, sinh ngày 25/5/1995 (là bạn của P), cư trú tại tổ 4, ấp An Lạc, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang để đi đến điểm hẹn gặp P, khi đến nơi Phong đưa cho P 01 (một) bịch ma túy đá và nhận 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), sau khi nhận được ma túy thì P bỏ vào trong bao thuốc lá hiệu Hero, màu vàng, để ở phía trước võng của xe đang chạy và điều khiển xe về nhà tại số 550 N, khu phố 3, phường V, thành phố R.
Đến 20 giờ 15 phút cùng ngày thì P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát C1-108.29, trên võng xe vẫn còn để vỏ bao thuốc lá hiệu Hero, bên trong có bịch ma túy đá, đi tìm bạn để sử dụng, khi đến trước cửa Công ty Cổ phần Điện Công nghiệp Lê Khang, số 350 N, phường V, thành phố R thì bị Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 4 – Bộ tư lệnh Cảnh sát biển, phối hợp với Công an phường V bắt quả tang, kiểm tra thu giữ trong bao thuốc lá nhãn hiệu Hero, màu vàng, để ở phía trước võng xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter, biểm kiểm soát 68C1- 108.29 P đang điều khiển 01 bịch nylon trong suốt, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, không đồng nhất, nghi là chất ma túy, sau đó P được đưa về trụ sở Công an phường V làm việc và P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Ngày 01/01/2021, Phạm Minh P bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R khởi tố, tạm giam để phục vụ điều tra.
Trong quá trình điều tra và truy tố, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:
- 01 (một) bịch nylon trong suốt, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, không đồng nhất (trong bao thuốc lá nhãn hiệu Hero, màu vàng, để ở phía trước võng xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter, biểm kiểm soát 68C1- 108.29), đã được niêm phong;
- 01 (một) vỏ gói thuốc lá nhãn hiệu Hero, màu vàng;
- 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter, biểm kiểm soát 68C1-108.29, đã qua sử dụng.
* Tại bản kết luận giám định số 1099/KL-KTHS, ngày 31/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamin. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,5665 gam.
Methamphetamin là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT323, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định các Danh mục chất ma túy và tiền chất.
* Bản Cáo trạng số 78/CT-VKSRG ngày 09/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Phạm Minh P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
Bị cáo Phạm Minh P đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trên. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Minh P mức án 01 (một) năm 07 (bảy) tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:
+ Tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm: 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi “Niêm phong mẫu vật, vụ số 1099/2020 ngày 31/12/2020, có chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy và người chứng kiến Võ Anh Linh; 01 (một) vỏ gói thuốc lá nhãn hiệu Hero, màu vàng. Theo lệnh nhập kho vật chứng số 13 ngày 02/02/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R.
+ Trả lại cho bị cáo 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, biểm kiểm soát 68C1- 108.29, đã qua sử dụng là tài sản không liên quan đến việc phạm tội. Theo lệnh nhập kho vật chứng số 37 ngày 19/3/2021 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an thành phố R, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố R, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên toà hôm nay bị cáo Phạm Minh P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Vào lúc 20 giờ 15 phút ngày 27/12/2020, Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 4 – Bộ tư lệnh Cảnh sát biển phối hợp với Công an phường V bắt quả tang Phạm Minh P đang tàng trữ trái phép chất ma túy trước cửa trụ sở Công ty Cổ phần Điện Công nghiệp Lê Khang, số 350 N, phường V, thành phố R, thu giữ trong bao thuốc lá nhãn hiệu Hero, màu vàng để ở trước võng xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter, biển kiểm soát 68C1 – 108.29 P đang điều khiển 01 (một) bịch nylon trong suốt, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, không đồng nhất, qua giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,5665 gam.
Từ những chứng cứ đã nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Phạm Minh P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như đã viện dẫn nêu trên.
Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo ý thức được việc sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, bất kỳ ai vi phạm đều bị xử lý nghiêm. Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Minh P là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất về ma túy. Bản thân bị cáo có đủ năng lực biết rất rõ tác hại của ma túy ảnh hưởng như thế nào đối với sức khỏe, tinh thần của con người và cũng là tiền đề tạo ra nhiều tệ nạn xấu, đặc biệt là dễ dẫn đến nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác làm mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến bản thân bị cáo nói riêng và cộng đồng xã hội nói chung. Vì vậy Nhà nước luôn chú trọng việc đấu tranh phòng ngừa và xử lý nghiêm đối với loại tội phạm này. Nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật cố ý lao vào con đường phạm tội của mình. Do đó, cần xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng đối với tội trạng của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, cũng đồng thời ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Hơn nữa, bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải nuôi cha mẹ già thường xuyên đau bệnh và 02 con nhỏ. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình.
Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc định tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận để xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn; đồng thời bị cáo cũng không đảm nhiệm chức vụ, không hành nghề cũng như không làm công việc gì nhất định. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về Xử lý vật chứng. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi “Niêm phong mẫu vật, vụ số 1099/2020 ngày 31/12/2020, có chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy và người chứng kiến Võ Anh Linh; 01 (một) vỏ gói thuốc lá nhãn hiệu Hero, màu vàng.
+ Trả lại cho bị cáo Phạm Minh P 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, biểm kiểm soát 68C1- 108.29 đã qua sử dụng, do chiếc xe này là tài sản chung của gia đình bị cáo và không liên quan đến việc phạm tội. Theo Quyết định chuyển vật chứng số 67 ngày 09/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thanh phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Về các vấn đề khác của vụ án: Đối với người đàn ông tên Pg, qua lời khai của bị cáo Phạm Minh P không xác định được Phong ở đâu, từ đó chưa xác định được nhân thân và lại lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R tiếp tục điều tra, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Minh P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự và khoản 5 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Minh P thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam là 01 (một) năm 07 (bảy) tháng tù, trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.
2. Về xử lý vật chứng. Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên ngoài ghi “Niêm phong mẫu vật, vụ số 1099/2020 ngày 31/12/2020, có chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy và người chứng kiến Võ Anh Linh; 01 (một) vỏ gói thuốc lá nhãn hiệu Hero, màu vàng.
+ Trả lại cho bị cáo Phạm Minh P 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, biểm kiểm soát 68C1- 108.29, đã qua sử dụng.
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 67 ngày 09/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thanh phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 28/7/2022).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - Viện kiểm sát cùng cấp; - Cơ quan THA Tp.R; - Công an thành phố R; - Bị cáo, người TGTT; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Văn Thậm |