vanban.org

Bản án 219/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mười H về việc yêu cầu ly hôn với ông Dương Văn H.

2/ Bà Nguyễn Thị Mười H được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 218 của Bộ luật Tố tụng dân sự. 3/ Về án phí: Hoàn lại cho bà Nguyễn Thị Mười H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Mười H"
  • Tòa quyết gì? 1/ Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mười H về việc yêu cầu ly hôn với ông Dương Văn H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 219/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 07/9/2022
V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Thoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Tư;

2. Bà Lê Thị Hiệp.

- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Trong ngày 07 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 332/2022/TLST-HNGĐ ngày 26/5/2022 về việc tranh chấp: “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 204/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/8/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mười H, sinh năm 1984. (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp Hiệp N, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Ông Dương Văn H, sinh năm 1986. (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp 3, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ghi ngày 13/5/2022, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mười H trình bày:

Tôi và ông Dương Văn H là vợ chồng có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 21/02/2019. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, chồng không biết quan tâm chia sẽ với tôi những khó khăn trong cuộc sống mà còn thường xuyên đi uống rượu bỏ bê vợ con nên vợ chồng thường xuyên tranh cãi làm cho cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: cho tôi được ly hôn với ông Dương Văn H.

- Về con chung: có 02 con chung tên Dương Nguyễn Khánh M, sinh ngày 22/4/2019 và Dương Nguyễn Minh L, sinh ngày 12/10/2020. Sau khi ly hôn tôi yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000đ cho đến khi hai con đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa bị đơn ông Dương Văn H trình bày:

- Về thời gian kết hôn, con chung như chị H trình bày là đúng. Nay chị H yêu cầu ly hôn với tôi, tôi không đồng ý do mâu thuẫn vợ chồng không lớn, tình cảm vợ chồng có thể hàn gắn được.

- Về con chung: Có 02 con chung như chị H trình bày. Trường hợp Tòa án cho ly hôn thì tôi yêu cầu mỗi bên được nuôi dưỡng 01 con chung, không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa, căn cứ lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét thấy bà Nguyễn Thị Mười H và ông Dương Văn H do tìm hiểu tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn nên được pháp luật công nhận là vợ chồng, bà Hai xin ly hôn với ông H nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp “Ly hôn” theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Bị đơn ông H có nơi cư trú tại Ấp 3, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của các bên đương sự: Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Mười H, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bà Nguyễn Thị Mười H và ông Dương Văn H chung sống vợ chồng và có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã Phú An, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 21/02/2019 là hôn nhân hợp pháp. Bà Hai trình bày, sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Phía ông H không đồng ý ly hôn, tha thiết xin hàn gắn tình cảm vợ chồng để cùng nhau nuôi dạy con, đồng thời ông H cũng hứa sẽ khắc phục các mâu thuẫn để vợ chồng được hàn gắn tình cảm.

Sau khi nghe Hội đồng xét xử động viên, giải thích bà Nguyễn Thị Mười H đồng ý rút lại toàn bộ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với ông H để vợ chồng hàn gắn tình cảm. Bị đơn ông Dương Văn H cũng đồng ý và không có ý kiến gì đối với yêu cầu xin rút lại toàn bộ yêu khởi kiện của bà Mười H tại phiên tòa hôm nay.

Thấy rằng việc nguyên đơn có yêu cầu xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 219, Điều 235, Điều 244 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

1/ Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mười H về việc yêu cầu ly hôn với ông Dương Văn H.

2/ Bà Nguyễn Thị Mười H được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 218 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

3/ Về án phí: Hoàn lại cho bà Nguyễn Thị Mười H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016256, ngày 26/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

4/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ