vanban.org

Bản án 219/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ông T xin ly hôn với bà M"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 219/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 30/5/2022
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Việt Quốc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Quốc Thanh;

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền;

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Huynh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện A.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 115/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2022 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 231/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 2833A/2022/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1988; Địa chỉ: Ấp B, xã K, huyện A, tỉnh An Giang;

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Trà M; sinh năm 1994; Địa chỉ: Ấp B, xã K, huyện A, tỉnh An Giang;

(Ông T có mặt, bà M vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 23/02/2022 cùng với các T liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, ông Nguyễn Văn T trình bày: Ông và bà M được sự mai mối người thân đi đến hôn nhân năm 2017, có đăng ký kết hôn số 96 ngày 04/8/2017 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh P nhưng đến tháng 02/2021 thì phát sinh mâu thuẫn do ông và bà M thường xuyên cãi nhau. Ông và bà M ly thân từ tháng 02/2021 đến nay. Trong thời gian ly thân gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành. Nay, ông yêu cầu ly hôn với bà M.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Quốc P, sinh ngày 07/11/2017 và Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày 15/11/2020. Từ khi ly thân đến nay, cháu P sống với ông, cháu Lan A sống với bà M. Khi ly hôn, ông yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu P, đồng ý để bà M tiếp tục cháu Lan Anh, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về T sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà M không có mặt theo triệu tập của Tòa nên không ghi nhận được ý kiến của bà M; bà M cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến. Ông T có yêu cầu không tiến hành hòa giải.

Về T liệu chứng cứ: Các T liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các T liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm T liệu chứng cứ khác.

Theo cung cấp của Công an xã K tại Biên bản xác minh ngày 18/5/2022 được biết, bà Nguyễn Thị Trà M; sinh năm 1994 hiện vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại Địa chỉ: Tổ 7, ấp B, xã K, huyện A, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, ông T bảo lưu ý kiến.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử vắng mặt, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn về hôn nhân và con chung có căn cứ nên đề nghị chấp nhận. Đối với T sản chung bà M vắng mặt nếu sau này bà M chứng minh về T sản chung thì sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ kiện khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ông Nguyễn Văn T khởi kiện yêu cầu ly hôn với Nguyễn Thị Trà M. Đồng thời, bà M cư trú trên địa bàn huyện A. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bà M được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà M theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa bà M, ông T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K theo quy định nên được xem là hôn nhân hợp pháp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên thụ lý, giải quyết theo Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu của ông T xin ly hôn với bà M Hội đồng xét xử xét thấy thời gian ly thân giữa bà M, ông T đã lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn. Đồng thời gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành. Xét thấy mâu thuẫn của bà M, ông T không thể hàn gắn nên Hội đồng xét xử chấp nhận ly hôn theo yêu cầu của ông T theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Quốc P, sinh ngày 07/11/2017 và Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày 15/11/2020. Hiện nay, cháu P sống với ông T, cháu Lan A sống với bà M. Ông T yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu P, đồng ý để bà M tiếp tục nuôi cháu Lan A. Xét thấy, từ khi ly thân đến nay, cháu P đang sống với ông T và cháu Lan A đang sống cùng bà M. Do đó, để tránh xáo trộn về mặt tâm lý đối với con chung và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho ông T tiếp tục nuôi cháu P, bà M tiếp tục nuôi cháu Lan A là phù hợp.

Về cấp dưỡng: Ông T không yêu cầu cấp dưỡng và không ghi nhận được ý kiến của bà M nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các đương sự có yêu cầu thì giải quyết bằng một vụ án khác.

[4] Về T sản chung: Ông T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

[5] Về nợ chung: Ông T không yêu cầu nên không xem xét.

[6] Về án phí: Ông T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Bà M không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016;

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Nguyễn Văn T.

Về hôn nhân: ông Nguyễn Văn T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Trà M.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 96 ngày 04/8/2017 tại Ủy ban nhân dân xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu P, tỉnh An Giang. không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Ông Nguyễn Văn T được tiêp tục nuôi con chung Nguyễn Quốc P, sinh ngày 07/11/2017. Bà Nguyễn Thị Trà M được tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày 15/11/2020.

Ông T và bà M cùng các thành viên gia đình không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về án phí: Ông T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Khấu trừ 300.000 đồng từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006829 ngày 01/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A. (Ông T nộp đủ).

Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/5/2022), ông T được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử Pc thẩm. Thời hạn kháng cáo của bà M là 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ