- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lại Quang Đ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lại Quang Đ phạm tội “ Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 219/2021/HSST Ngày 21/12/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Quang Long
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa
2. Ông Trần Đ Nhuận
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện G - thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G- thành phố H, tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thoa - kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G, thành phố H, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 225/2021/HSST ngày 08/12/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 228/2021/QĐXXST-HS ngày 9 tháng 12 năm 2021, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lại Quang Đ, sinh 1990. ĐKHKTT và chỗ ở: thôn A, Đ, Kh, H. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lái xe. Trình độ học vấn: 12/12. Bố: Lại Quang C, năm sinh 1961. Mẹ: Đào Thị H, sinh 1961. Gia đình có 4 chị em, bị cáo là con thứ hai. Vợ: Đỗ Thị H, sinh năm 1993. Có 02 con: con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo hiện đang được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
1. Bà Cam Thị T, sinh 1964, trú tại: Đội M K, xã Đ, G, H. (đã chết). Đại diện theo pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Cam Thị T theo giấy ủy quyền có anh Nguyễn Văn H, sinh 1991. Trú tại: thôn K, Đ, G, H. Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 7 giờ 50 phút ngày 05/6/2021, tại đường 39B, thuộc thôn K, xã Đ, G, H xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ giữa xe ô tô tải BKS: 89C-191.06 do Lại Quang Đ điều khiển (có giấy phép lái xe theo quy định) đi theo chiều H đi cầu Th va chạm với xe mô tô BKS 29K1- 020.56 do bà Cam Thị T, sinh: 1964, trú tại: Đội M K, Đ, G, H điều khiển lưu thông cùng chiều đến lối mở cho xe chuyển hướng sang đường thì xảy ra tai nạn. Hậu quả: Bà Cam Thị T bị thương tích nặng được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Việt Đức, đến ngày 07/6/2021, thì bị tử vong, các phương tiện liên quan bị hư hỏng.
* Về Hiện trường vụ tai nạn giao thông:
Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng trên đường quốc lộ 39B, hướng từ H đi H thuộc địa phận thôn K, Đ, G, H. Vị trí nơi xảy ra tai nạn là tại lối mở quay đầu của các phương tiện tham gia giao thông. Tại hai đầu lối mở có cắm biển hiệu báo cấm đi ngược chiều. Đoạn đường này được dải nhựa phẳng được chia làm ba làn đường ngăn cách bằng vạch sơn đứt quãng màu trắng, chiều rộng các làn đường lần lượt từ trái qua pH theo chiều đi là 4,0 mét; 3,5 mét; 3,5 mét.
Lấy tâm cột đèn kí hiệu EC.T2/L2-39A nằm trên dải phân cách ở giữa hai chiều đường làm điểm mốc hiện trường. Lấy mép đường bên trái theo hướng H đi cầu Th làm mép đường chuẩn.
Vị trí phương tiện, dấu vết sau tai nạn được đo vuông góc đến mép đường chuẩn lần lượt là:
Vết cầy xước mặt đường dài 16,5m có hướng từ H đi cầu Th, đo vuông góc từ đầu vết cày xước này đến mép đường chuẩn được 1,6m; điểm cuối vết cày xước này là đầu trục trước bên pH xe mô tô BKS 29K1-020.56. Vị trí xe mô tô BKS 29K1-020.56 sau tai nạn nằm đổ nghiêng bên pH trên mặt đường phía trong lối mở quay đầu của các phương tiện tham gia giao thông, đầu xe quay về hướng H, đuôi xe quay về hướng cầu Th. Đo hình chiếu từ tâm trục bánh trước, tâm trục bánh sau xe mô tô này đến mép đường chuẩn được lần lượt là 0,8m và 1m. Đo từ tâm trục bánh trước xe mô tô này song song với mép đường chuẩn về hướng H được 4m là hình chiếu tâm đầu trục bên trái xe ô tô BKS 89C-191.06.
Vị trí xe ô tô BKS 89C-191.06 sau tai nạn đỗ lại trên mặt đường, đầu xe quay về hướng cầu Th, đuôi xe quay về hướng H. Đo từ hình chiếu tâm đầu trục bánh lốp trước, hình chiếu tâm đầu trục bánh lốp sau ben trái xe ô tô này vuông góc đến mép đường chuẩn được lần lượt là 0,6m và 0,7m.
Vị trí vùng thức ăn sau tai nạn nằm rơi vãi trên mặt đường phía trong lối mở quay đầu của các phương tiện tham gia giao thông. Vùng thức ăn này có diện 7,3mx10,8m. Điểm đầu của vùng thức ăn này ở phía sau sườn trái xe ô tô BKS 89C-191.06, điểm cuối của vùng thức ăn này rơi vãi ở đầu lối mở quay đầu hướng đi cầu Th.
Mốc hiện trường làm tâm cột đèn kí hiệu EC.T2/L2-39A cách tâm trục bánh sau xe mô tô BKS 29K1-020.56 là 5,6m về hướng cầu Th.
* Về giám định dấu vết trên phương tiện liên quan:
Ngày 02/7/2021, Cơ quan CSĐT- Công an huyện G ra Quyết định trưng cầu giám định dấu vết trên các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn. Tại bản kết luận giám định số5634/C09-P3 ngày 21/7/2021 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an, kết luận: 1)- Dấu vết trượt xước, dính chất màu xanh da trời và màu vàng (dạng sơn) ở mặt trước đầu bên trái chắn đà trước xe ô tô biển số 89C-191.06 có chiều từ trước về sau, từ phải sang trái, phù hợp với dấu vết trượt xước, mất sơn màu xanh da trời và màu vàng ở mặt ngoài cánh yếm chắn gió bên trái xe mô tô BKS 29K1-020.56. Dấu vết va chạm ở xe mô tô tại vị trí này có chiều từ trước về sau.
- Dấu vết trượt xước, mất sơn màu xanh, dính chất màu vàng (dạng sơn) tạo thành các đường song song ở mặt trước phía dưới chắn đà trước xe ô tô BKS 89C-191.06 có chiều từ trước về sau, từ phải sang trái, phù hợp với dấu vết trượt xước, dính chất màu xanh (dạng sơn) ở phía dưới giảm xóc sau bên trái và dấu vết trượt xước, mất sơn màu vàng ở mặt ngoài lò xo giảm xóc này của xe mô tô biển số 29K1-020.56. Dấu vết va chạm ở xe mô tô tại vị trí này có chiều từ trước về sau.
- Không xác định được vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô BKS 89C-191.06 với xe mô tô BKS 29K1-020.56.
2). Dấu vết biến dạng, trượt xước, dính chất màu trắng (dạng bột đá) ở mặt ngoài bên phải ốp nhựa đầu xe mô tô biển số 29K1-020.56 có chiều từ trước về sau.
- Dấu vết trượt xước, dính chất màu trắng (dạng bột đá) ở mặt ngoài bàn đạp phanh chân, ở mặt ngoài bàn đạp cần khởi động, ở mặt ngoài bên phải tay nâng phía sau, ở mặt ngoài ống xả xe mô tô BKS 29K1-020.56 có chiều từ sau về trước.
- Các dấu vết bên phải nêu trên của xe mô tô có đặc điểm giống đặc điểm của dấu vết hình thành do va chạm với mặt đường khi xe mô tô này đổ nằm nghiêng bên phải và trượt trên mặt đường.
Các dấu vết còn lại ở xe ô tô BKS 89C-191.06 và ở xe mô tô BKS 29K1-020.56 được ghi nhận trong “Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông” của Công an huyện G hiện tại không thể hiện rõ đặc điểm nên không đủ yếu tố giám định.
*Khám nghiệm, giám định pháp y tử thi nạn nhân: Cơ quan CSĐT- Công an huyện G đã tiến hành trưng cầu pháp y tử thi đối với nạn nhân Cam Thị T, nhưng gia đình đã cản trở và từ chối pháp y tử thi.
Theo hồ sơ bệnh án tại Bệnh viện Việt Đức xác định: nạn nhân Cam Thị T vào viện hồi 8 giờ 45 phút ngày 05/6/2021 trong tình trạng thương tích chấn thương sọ não nặng, máu tụ dưới màng cứng, dập não trán 02 bên.
Theo Lại Quang Đ khai nhận: Khoảng 7 giờ ngày 5/6/2021, Đ điều khiển xe ô tô tải BKS 89C-191.06 từ nhà ở Đ, Kh, H đi đến đường G, H để lấy hàng. Đến khoảng 7 giờ 50 phút cùng ngày, Đ điều khiển xe đi trên đường 39B thuộc địa phận thôn K, Đ, G, theo hướng H đi cầu Th, H. Đ đi xe với vận tốc khoảng 60 km/h, ở làn trong cùng bên trái chiều đi giáp dải phân cách cứng. Khi đi đến gần lối mở của dải phân cách cho các phương tiện chuyển hướng sang đường, do thiếu chú ý quan sát nên Đ không phát hiện ngay được phía trước có xe mô tô BKS 29K1-02056 do bà Cam Thị T điều khiển chuyển làn rẽ trái để sang đường nhưng không bật đèn tín hiệu xin đường; đến khi phát hiện thì đầu xe ô tô của Đ cách xe mô tô do bà T điều khiển khoảng 10m, Đ không làm chủ được tốc độ, không kịp xử lý đánh lái, chỉ đạp chết phanh làm xe ô tô trôi về phía trước khiến đầu xe ô tô đâm va vào phần ngang thân xe bên trái xe mô tô khiến bà T bị văng lên đập vào kính chắn gió trước xe ô tô sau đó ngã xuống đường và bị thương tích nặng. Sau khi gây tai nạn, Lại Quang Đ đã đưa bà T đi cấp cứu sau đó đến cơ quan Công an khai báo toàn bộ nội dung sự việc. Hậu quả xảy ra bà T điều trị bệnh viện từ ngày 5/6/2021 cho đến ngày 7/6/2021 thì tử vong.
Về trách nhiệm dân sự: Lại Quang Đ đã khắc phục bồi thường dân sự cho gia đình nạn nhân Cam Thị T tổng số tiền 130.000.000 (Một trăm ba mươi triệu) đồng. Anh Nguyễn Văn H, sinh 1991, trú tại: thôn K, Đ, G, H, là con trai nạn nhân, đại diện gia đình đã nhận tiền bồi thường và không còn yêu cầu về dân sự, xin miễn trách nhiệm hình sự cho Lại Quang Đ.
Ngày 24/9/2021, Cơ quan điều tra đã trả chiếc xe ô tô BKS89C- 191.06 cùng giấy đăng ký xe và giấy tờ liên quan cho Lại Quang Đ. Ngày 27/9/2021, Cơ quan điều tra đã trả chiếc xe mô tô BKS 29K1-020.56 cho anh Nguyễn Văn H.
Tại bản cáo trạng số 240/CT - VKSGL ngày 30/11/2021, của VKSND huyện G truy tố bị cáo Lại Quang Đ về tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lại Quang Đ thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng nêu là đúng, bị cáo thừa nhận: Khoảng 7 giờ 50 ngày 5/6/2021, tại đường 39B thuộc địa phận thôn K, Đ, G, H, bị cáo điều khiển xe ô tô BKS 89C-191.06 có giấy phép lái xe theo quy định, đi trên đường 39B hướng từ H đi cầu Th, do Đ không chú ý quan sát, không giảm tốc độ an toàn khi đến đoạn lối mở của dải phân cách cho các phương tiện chuyển hướng sang đường, nên khi phát hiện xe môtô do bà Cam Thị T điều khiển đang chuyển hướng rẽ trái qua lối mở, do không làm chủ tay lái, tốc độ di chuyển và do phương tiện xe máy rẽ trái quá gấp, không có tín hiệu xin đường, bị cáo phanh xe ô tô không kịp ô tô trượt làm mặt trước đầu bên trái chắn đà trước của xe ôtô va vào mặt ngoài cánh yếm chắn gió và phần lò xo giảm xóc bên trái của xe môtô BKS 29K1-020.56 do bà Cam Thị T điều khiển, xảy ra tai nạn. Hậu quả bà T được đưa đi cấp cứu xong đã tử vong sau hai ngày điều trị. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã gặp gỡ đại diện bị hại và thỏa thuận khắc phục toàn bộ thiệt hại, đại diện bị hại không còn yêu cầu về dân sự và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Bị cáo rất ăn năn về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo để cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
Đại diện bị hại anh Nguyễn Văn H có đơn xin xử vắng mặt, không yêu cầu về dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G sau khi luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lại Quang Đ; xác định nguyên nhân gây ra vụ tai nạn lỗi chủ yếu của bị cáo Đ, bị cáo điều khiển xe ô tô đó không làm chủ được tay lái, không làm chủ tốc độ là nguyên nhân gây ra vụ tai nạn. Hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông của Đ đã vi phạm khoản 23 điều 8 Luật giao thông đường bộ 2008. Bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi của mình. Về dân sự, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại, đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Trong vụ án này, người bị hại có một phần lỗi. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Lại Quang Đ 12- 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời hạn thử thách từ 24-30 tháng tính từ khi tuyên án. Vật chứng: Không. Dân sự: Không.
Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện G; Viện kiểm sát nhân dân huyện G, H, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cũng như hành vi của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký tòa án. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa xác định được: Lại Quang Đ điều khiển xe ô tô BKS 89C-191.06, thời gian khoảng 7h50 phút ngày 5/6/2021, tại đường 39B thuộc địa phận thôn K, Đ, G, H, hướng từ H đi cầu Th, do Đ không chú ý quan sát lòng đường, không làm chủ tốc độ, nên khi xe ô tô đến đoạn lối mở của dải phân cách cho các phương tiện chuyển hướng sang đường, phát hiện xe môtô do bà Cam Thị T điều khiển đang chuyển hướng rẽ trái qua lối mở, Đ đã phanh xe nhưng xe ôtô tiếp tục trượt về phía trước làm mặt trước đầu bên trái chắn đà trước của xe ôtô va vào mặt ngoài cánh yếm chắn gió và phần lò xo giảm xóc bên trái của xe môtô BKS 29K1-020.56 do bà Cam Thị T điều khiển, gây ra vụ tai nạn. Hậu quả vụ tai nạn xảy ra là nghiêm trọng, bà Cam Thị T tử vong, tài sản bị hư hỏng nhẹ trong vụ tai nạn gồm xe máy BKS 29K1-020.56 do nạn nhân Cam Thị T điều khiển.
Như vậy Lại Quang Đ điều khiển xe tham gia giao thông do không làm chủ tốc độ, không chú ý quan sát lòng đường, giữ khoảng cách an toàn, vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ 2008, là nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn.
Đối với nạn nhân Cam Thị T điều khiển xe môtô BKS 29K1-020.56 có dung tích xi lanh trên 50cm3 không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, khi đi đến lối mở quay đầu nhưng không phát tín hiệu báo hướng rẽ để phương tiện tham gia giao thông biết để nhường đường, giảm tốc độ là vi phạm khoản 9 Điều 8 và khoản 1 Điều 15 Luật giao thông đường bộ, vì vậy trong vụ án xác định nạn nhân có một phần lỗi trong vụ tai nạn.
Hành vi điều khiển phương tiện ô tô của Lại Quang Đ tham gia giao thông đường bộ, để xảy ra vụ tai nạn giao thông gây hậu quả 01 người chết, xe máy bị hư hỏng nhẹ, đủ để xử lý trách nhiệm hình sự theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện G truy tố bị cáo về tội “ Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm đã xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng được Bộ luật hình sự bảo vệ, gây mất ổn định trật tự an ninh xã hội. Bị cáo tham gia giao thông đường bộ, đã không tuân thủ qui định của Luật giao thông đường bộ, vi phạm pháp luật gây ra tai nạn giao thông để lại hậu quả nghiêm trọng như đã nêu trên. Nhưng xét tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, nhân thân của bị cáo và bị cáo có địa chỉ nơi cư trú rõ ràng; Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thiệt hại xảy ra bị cáo đã tự nguyện khắc phục toàn bộ thiệt hại cho người bị hại; đại diện bị hại không còn yêu cầu về bồi thường dân sự và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Mặt khác trong vụ án xảy ra tai nạn có một phần lỗi của người bị hại. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy chỉ cần áp dụng mức án trong khung hình phạt và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
. Dân sự: Đã được giải quyết xong nên không đặt vấn đề giải quyết.
. Vật chứng: Đối với giấy phép lái xe của bị cáo đã được trả lại cho bị cáo Đ trước khi mở phiên tòa nên không đặt vấn đề giải quyết.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Lại Quang Đ phạm tội “ Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”.
1- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Các Điều 331; Điều 333; Điều 336; Điều 106 BLTTHS 2015.
Xử phạt: Lại Quang Đ 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 24 tháng tính từ khi tuyên án. Giao bị cáo Lại Quang Đ cho chính quyền UBND xã Đ, huyện K, H, nơi bị cáo cư trú theo dõi, giáo dục trong thời hạn thử thách. Áp dụng khoản 5 Điều 65 BLHS: Trong thời gian thử thách, bị cáo Lại Quang Đ cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc Lại Quang Đ phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Dân sự: Không. Vật chứng: Không.
2- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm.
Báo cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Đại diện theo ủy quyền của người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - UBND xã nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo, người tham gia tố tụng; - Tòa án nhân dân TP H; - Công an huyện G; - VKSND huyện G; - THADS huyện G; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Quang Long |