- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn A bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. - phạm tội tàng trữ…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn A 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14 tháng 5 đến ngày 22 tháng 5 năm 2020.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 219/2020/HSST Ngày 21 tháng 12 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long
Các Hội thẩm nhân dân: 1 Ông Phạm Bá Xuân
2. Bà Trần Thị An
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:
Bà Ngô Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đưa ra xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 214/2020/TL - HSST ngày 19 tháng 11 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 395/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2020 đối với:
Bị cáo Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1991; Đăng ký hộ khẩu: Tổ dân phố số 3 M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Tự do. Văn hóa: 11/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Họ và tên bố: Nguyễn Văn H, sinh năm 1965. Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1970. Họ và tên vợ: Tô Thanh T, sinh năm 1991 (đã ly hôn). Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2015. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Nhân thân: không có tiền án, tiền sự. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 13 tháng 5 năm 2020, hiện đang áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 23 tháng 5 năm 2020. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 13 tháng 5 năm 2020, tại trước cửa quán Bar Star (Địa chỉ: Số 67Y Phó Đức Chính, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội), Tổ công tác C3-D5 trung đoàn CSCĐ Công an thành phố Hà Nội phát hiện 05 đối tượng gồm: Nguyễn Tuấn A, Phạm Đức Anh, Bùi Hà Duy, Thái Thu Thảo, Đinh Thị Thu Thủy có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, phát hiện tại túi quần trước bên phải của Tuấn A có 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 17 viên nén màu tím nhạt có hình đầu lâu (trong đó có 01 viên bị vỡ làm hai phần). Tại chỗ, Tuấn A khai là ma túy tổng hợp mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã đưa Tuấn A cùng tang vật về trụ sở công an phường Trúc Bạch để làm rõ.
Ngoài số ma túy bị thu giữ nêu trên, tổ công tác còn thu giữ của Tuấn A:
- 01 điện thoại di động Iphone XS Max màu đen, trong có có 01 sim số 0906863686; Số tiền: 1.000.000 đồng
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Tuấn A khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 13 tháng 5 năm 2020, Tuấn A đi ăn cùng nhóm bạn gồm: Đinh Thị Thu Thủy, Phạm Đức Anh, Bùi Hà Duy, Thái Thu Thảo ở quán số 25 Hoàng Cầu (quận Đống Đa, thành phố Hà Nội). Trong khi mọi người đang ngồi ăn tầng 2 của quán thì Tuấn A sử dụng số điện thoại 0906863686 đi ra ngoài gọi điện cho một người bạn tên Trung (số điện thoại: 0962417777) để hỏi Trung biết chỗ nào bán ma túy tổng hợp không để mua. Khoảng 30 phút sau, Trung gọi lại báo có người mang “thuốc lắc” đến, Tuấn A đi một mình xuống cửa quán ở dưới tầng một, gặp một nam thanh niên và nhận một túi nilon có chứa 17 viên ma túy tổng hợp với giá 5.100.000 đồng. Tuấn A cầm túi nilon trên cất vào túi quần trước bên phải, trả số tiền 5.100.000 đồng cho nam thanh niên rồi đi vào quán. Quá trình mua ma túy Tuấn A không nói cho Phạm Đức Anh, Bùi Hà Duy, Thái Thu Thảo, Đinh Thị Thu Thủy biết. Sau khi ăn xong, năm người đã gọi xe taxi tới quán Bar Star chơi. Khi Tuấn A bước xuống xe taxi đỗ trước số 67Y Phó Đức Chính, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình thì bị phát hiện bắt quả tang như trên.
Quá trình điều tra, Tuấn A thay đổi lời khai, Tuấn A gọi điện thoại cho một người bạn tên Trung sử dụng số điện thoại 0962417777 để nhờ mua hộ ma túy nhưng Trung không nhận lời, sau đó Tuấn A đã tìm mua ma túy của một người không quen biết trên mạng xã hội với mục đích sử dụng cho bản thân.
Về đối tượng tên “Trung” mà Tuấn A khai sử dụng số điện thoại 0962417777, Cơ quan điều tra đã có Công văn gửi Tập đoàn công nghiệp viễn thông quân đội Viettel để xác định chủ thuê bao và thông tin cá nhân đối với thuê bao 0962417777, kết quả trả lời là thuê bao chưa đăng ký thông tin cá nhân nên chưa có căn cứ làm rõ, xử lý.
Về đối tượng mang ma túy cho Tuấn A, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được lai lịch cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.
Đinh Thị Thu Thủy, sinh năm 1990, Trú quán: Thôn Kim Quan, xã Yên Viên, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội; Phạm Đức Anh, sinh năm 1996, Trú quán: P707 Chung cư K35 phường Tương Mai, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội; Bùi Hà Duy, sinh năm: 1996, Trú quán: 167 Tây Sơn, phường Quang Trung, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội; Thái Thu Thảo, sinh năm: 1996, Trú quán: 167 Tây Sơn, phường Quang Trung, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội khai không biết việc Tuấn A mua và tàng trữ ma túy tổng hợp trong người. Kết quả xét nghiệm của Thủy, Đức Anh, Duy, Thảo đều âm tính với ma túy, nên cơ quan điều tra không xử lý.
Lời khai nhận tội của Nguyễn Tuấn A phù hợp với lời khai của người làm chứng, người liên quan, vật chứng thu giữ, hiện trường vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Kết luận giám định số 3821/KLGĐ – PC09 ngày 20 tháng 5 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “17 viên nén màu tím, một mặt có hình đầu lâu (trong đó có 01 viên vỡ đôi) bên trong 01 túi nilông đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng: 8,842 gam.”
Cáo trạng số: 216/CT-VKSBĐ ngày 12 tháng 11 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm vụ án và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận thành khẩn toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Đề nghị về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo mức án từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đề nghị về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu và tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong có 8,842 gam ma túy loại MDMA có chữ ký của giám định viên và đương sự; Tich thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen đã cũ, bên trong có 01 sim điện thoại của bị cáo có dùng vào việc liên lạc mua ma túy.
Trả lại cho bị cáo số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng thu giữ của bị cáo do không liên quan đến hành vi phạm tội.
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và không có tranh luận bào chữa gì về mức án. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Quá trình điều tra, truy tố liên quan đến đến việc giải quyết vụ án (Về hành vi, các quyết định tố tụng), Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
[2] Nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ diễn biến vụ án đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 13 tháng 5 năm 2020, tại trước cửa quán Bar Star địa chỉ: Số 67Y Phó Đức Chính, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Nguyễn Tuấn A đã có hành vi tàng trữ trái phép 8,842 gam ma túy MDMA, mục đích để sử dụng thì bị Tổ công tác C3-D5 trung đoàn CSCĐ Công an Hà Nội bắt quả tang cùng vật chứng. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định cùng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g, khoản 2, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Do vậy cần thiết phải có hình phạt tương xứng áp dụng đối với hành vi phạm tội của bị cáo mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa làm gương cho người khác biết tôn trọng pháp luật.
Khi xem xét, quyết định mức hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét nhân thân bị cáo không có tiền án, tiền sự; xét thái độ của bị cáo tại phiên tòa thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình, do đó cần thiết áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với đối tượng bán cho bị cáo ma túy, Cơ quan điều tra không làm rõ được lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.
[3] Xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong có 8,842 gam ma túy loại MDMA có chữ ký của giám định viên và đương sự; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen đã cũ, bên trong có 01 sim điện thoại của bị cáo có liên quan đến hành vi phạm tội.
Trả lại cho bị cáo số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng thu giữ của bị cáo do không liên quan đến hành vi phạm tội.
[4] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về Điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và về xử lý vật chứng phù hợp các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn A 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14 tháng 5 đến ngày 22 tháng 5 năm 2020.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu và tiêu hủy: 01 bao niêm phong bên trong có 8,842 gam ma túy loại MDMA có chữ ký của giám định viên và đương sự; Tich thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu đen đã cũ, bên trong có 01 sim điện thoại của bị cáo theo Biên bản giao vật chứng số 49 ngày 03 tháng 12 năm 2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Ba Đình, thành phố Hà Nội;
Trả lại cho bị cáo số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng theo Giấy nộp tiền ngày 21 tháng 12 năm 2020 vào tài khoản số 3949.106.1691 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
- Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày 21 tháng 12 năm 2020./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình; - Công an quận Ba Đình; - Chi cục THA dân sự quận Ba Đình; - UBND phường ……; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Ngọc Long |