vanban.org

Bản án 219/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 20/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phi H phạm tội““Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phi H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gia thử thách là 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Phi H cho UBND Thị trấn K, huyện Kr N, tỉnh Đắk Lắk nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sun…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phi H phạm tội““Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Thi hành án hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TP. BUÔN MA THUỘT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐĂK LĂK
Bản án số: 219/2019/HSST
Ngày 20/08/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Tú

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tiến Dũng.

2. Ông Nguyễn Văn Dzi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Phạm Trường Xuân; Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 08 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 203/2019/HSST ngày 29/07/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 211/2019/QĐXXST-HS ngày 09/08/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Phi H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 05 tháng 9 năm 1991; Tại: Đắk Lắk; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thị trấn K, huyện Kr N, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở hiện nay: Thôn 11, xã T. huyện B , tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lái xe taxi; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông: Nguyễn Thành S (đã chết); Con bà: Nhan Thị Th, sinh năm: 1956, hiện trú tại: Buôn U, thị trấn K, huyện Kr N, tỉnh Đắk Lắk; Gia đình bị cáo có 02 chị, em ruột, bị cáo là con thứ 2; Bị cáo có vợ: Triệu Thị Hằng N, sinh năm: 1996; Hiện trú tại: Thôn 11, xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Bị cáo mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Ông Lê Đăng T; Sinh năm: 1946.

Trú tại: Thôn H, xã Ê, huyện B, tỉnh Đăk Lăk. (Đã chết).

Người đại diện hợp pháp cho ông T: Anh Lê Duy Tr; Sinh năm: 1977. (Có mặt)

Trú tại: Thôn H, xã Ê, huyện B, tỉnh Đăk Lăk.

Người liên quan: Anh Lê Anh T; Sinh năm: 1990 (vắng mặt)

Trú tại: Thôn H, xã Ê, huyện B, tỉnh Đăk Lăk.

Anh Lê Minh T; Sinh năm: 1987 (Có mặt)

Trú tại: Thôn H, xã Ê, huyện B, tỉnh Đăk Lăk.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Phi H đã có giấy phép lái xe ô tô hạng C do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp. Khoảng 05 giờ 45 phút ngày 22 tháng 4 năm 2019, Nguyễn Phi H điều khiển xe Ôtô biển số 47A-193.89 chở heo quay từ đường Y Jút, thành phố Buôn Ma Thuột về nhà gia đình vợ ở thôn 11, xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Đến khoảng 6 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Phi H điều khiển xe Ôtô biển kiểm soát 47A-193.89 lưu thông trên đường Nguyễn Thị Định theo hướng từ trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột về huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk. Trời lúc này sáng, đường vắng. Khi đến trước trụ điện số 10 đường Nguyễn Thị Định, thuộc buôn Ky, phường Thành Nhất, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Phi H điều khiển xe lấn sang phần đường bên trái theo hướng đi, nên để phía trước bên phải xe Ôtô biển kiểm soát 47A-193.89 tông vào phía trước xe Mô tô biển kiểm soát 47S1-085.07 do ông Lê Đăng T (sinh năm 1946 - trú tại: thôn H, xã Ê, huyện B, tỉnh Đắk Lắk) điều khiển lưu thông theo hướng ngược chiều lại, gây ra tai nạn giao thông. Hậu quả ông Lê Đăng T bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Vùng Tây Nguyên, đến trưa cùng ngày thì ông T tử vong, hai xe bị hư hỏng.

Về hiện trƣờng nơi xảy ra vụ tai nạn: Tai nạn xảy ra tại trước trụ điện số 10 đường Nguyễn Thị Định, buôn Ky, phường Thành Nhất, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Đường Nguyễn Thị Định là đoạn đường thẳng, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng rộng 5,6m và phân chia thành hai phần đường bằng vạch sơn trắng nét đơn đứt quãng, phần đường bên phải đường Nguyễn Thị Định theo hướng từ đường Phan Bội Châu, thành phố Buôn Ma Thuột về huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk rộng 2,8m, hai bên mép đường là lề đường đất. Khu vực hiện trường không có biển báo hiệu đường bộ và không có chướng ngại vật che khuất tầm nhìn của người tham gia giao thông.

Quá trình khám nghiệm chọn mép đường bên phải đường Nguyễn Thị Định theo hướng từ đường Phan Bội Châu, thành phố Buôn Ma Thuột về huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk làm mép đường chuẩn. Chọn gốc trụ điện số 10 đường Nguyễn Thị Định, phường Thành Nhất, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk làm mốc cố định.

Xe Mô tô biển kiểm soát 47S1-085.07 do ông Lê Đăng T điều khiển lưu thông trên đường Nguyễn Thị Định theo hướng từ huyện Buôn Đôn về trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột. Sau tai nạn, xe nằm ngã sang phải, đầu xe quay về hướng Nam, đuôi xe quay về hướng Bắc, trục bánh xe trước bên phải cách mép đường chuẩn là 4,6m và cách mốc cố định 14m, trục bánh xe sau cách mép đường chuẩn là 3,7m.

Xe Ôtô biển kiểm soát 47A-193.89 do Nguyễn Phi H điều khiển lưu thông trên đường Nguyễn Thị Định theo hướng từ trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột về huyện Buôn Đôn. Sau tai nạn, xe đỗ tại hiện trường, đầu xe quay về hướng Tây, đuôi xe quay về hướng Đông, trục bánh xe trước bên phải cách mép đường chuẩn là 5,8m, trục bánh xe sau bên phải cách mép đường chuẩn là 4,8m và cách trục bánh trước xe Mô tô biển kiểm soát 47S1-085.07 là 0,6m.

Ngoài ra, hiện trƣờng còn để lại các dấu vết: Vết chà xước, đứt quãng, kích thước (0,90x0,10)m, đầu vết cách mép đường chuẩn 3,80m, cuối vết cách mép đường chuẩn là 4,2m và cách trục trước bánh xe Mô tô biển kiểm soát 47S1-085.07 là 1,75m.

Vị trí va chạm giữa xe Mô tô biển kiểm soát 47S1-085.07 với xe Ôtô biển kiểm soát 47A-193.89 được xác định tương ứng với mặt đường Nguyễn Thị Định, phường Thành Nhất, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk: Cách mép đường chuẩn là 3,15m, cách đầu vết chà xước là 1,3m, cách trục bánh sau bên phải xe Ôtô biển kiểm soát 47A-193.89 là 3,55m và cách trục bánh sau xe Mô tô biển kiểm soát 47S1-085.07 là 4,45m.

Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã tạm giữ: 01 Ôtô biển kiểm soát 47A-193.89, nhãn hiệu HUYNDAI, loại xe ô tô con, số loại Grand I10, màu sơn vàng, tự trọng: 912 kg dung tích: 998 cm3, số máy: G3LA-HM277176, số khung: MALA851AAJM609233; 01 Mô tô biển kiểm soát 47S1-085.07, nhãn hiệu: HONDA, loại xe: Hai bánh, số loại: AIR BLADE, màu sơn: Đen-cam, dung tích: 124 cm3, số khung: RLHJF4611EY38027 số máy: JF46E-5080295; 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C, số 660164024180 do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 11/12/2016, mang tên Nguyễn Phi H và chụp ảnh minh họa để phục vụ công tác điều tra.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 174/TTh-TTPY, ngày 03 tháng 5 năm 2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Nguyên nhân tử vong của ông Lê Đăng T là: Suy hô hấp tuần hoàn do choáng chấn thương tuỷ sống/Đa chấn thương nặng/TNGT.

Gia đình nạn nhân ông Lê Đăng T yêu cầu Nguyễn Phi H phải bồi thường các khoản chi phí cấp cứu, mai táng cho nạn nhân và tiền tổn thất tinh thần và các khoản chi phí khác là 110.000.000đồng. Nguyễn Phi H đã bồi thường số tiền 110.000.000đồng cho gia đình nạn nhân ông Lê Đăng T. Anh Lê Duy Tr là đại diện hợp pháp cho gia đình nạn nhân ông Lê Đăng T đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu bồi thường gì thêm và tự nguyện viết đơn bãi nại cho Nguyễn Phi H.

Bị can Nguyễn Phi H đã bồi thường số tiền 15.000.000đồng cho anh Lê Anh T để sửa chữa xe Mô tô biển kiểm soát 47S1-085.07 bị hư hỏng, anh T đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Quá trình điều tra Nguyễn Phi H đã thành khẩn khai báo, đã bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại, được đại diện gia đình bị hại tự nguyện làm đơn bãi nại.

Đối với 01 xe Ôtô biển kiểm soát 47A-193.89, cùng những giấy tờ liên quan, quá trình điều tra xác định là tài sản của bị can Nguyễn Phi H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị can Nguyễn Phi H.

Đối với 01 xe Mô tô biển kiểm soát 47S1-085.07, cùng những giấy tờ liên quan, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Lê Anh T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh T. Tuy nhiên do anh T đi Nhật Bản học tập nên uỷ quyền cho anh Lê Minh T nhận thay.

Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C, số 660164024180 do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 11/12/2016, mang tên Nguyễn Phi H, trả lại cho bị can H, nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm việc xét xử.

Với các nội dung trên, tại bản cáo trạng số 224/CT-VKSTP.BMT ngày 29/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột đã truy tố bị cáo Nguyễn Phi H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạnh đã mô tả và thừa nhận vào khoảng 05 giờ 45 phút ngày 22 tháng 4 năm 2019, bị cáo điều khiển xe Ôtô biển số 47A-193.89 từ đường Y Jút, thành phố Buôn Ma Thuột về nhà gia đình vợ ở thôn 11, xã T, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Đến khoảng 6 giờ 00 phút cùng ngày, trời lúc này sáng, đường vắng. Bị cáo điều khiển xe với tốc độ khoảng 50 đến 60km/h, khi đến khu vực Buôn Ky, phường Thành Nhất, bị cáo phát hiện có một xe môt tô phía trước chạy ngược chiều đi gần giữa đường, bị cáo nghĩ là họ sẽ sang đường nên không giảm tốc độ mà đánh tay lái xe về bên trái theo hướng đi của mình thì người đi xe máy không sang đường mà tiếp tục đi trên phần đường bên phải theo chiều đi của họ, vì vậy bị cáo không kịp xử lý nên đã tông vào xe Mô tô, gây ra tai nạn giao thông. Hậu quả ông Lê Đăng T là người điều khiển xe bị tử vong.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đại diện hợp pháp của người bị hại là anh Lê Duy Tr khai: Ngày 22/4/2019 bố anh là Lê Đăng T điều khiển xe lưu thông trên đường Nguyễn Thị Định thuộc Buôn Ky phường Thành Nhất thì xảy ra tai nạn với xe của anh Nguyễn Phi H. Hậu quả làm ông T bị thương và tử vong. Sau khi tai nạn xảy ra thì gia đình bị cáo đã đến xin lỗi và đã lo toàn bộ chi phí mai táng các chi phí khác với số tiền 110.000.000đ cho gia đình anh. Tại phiên tòa hôm nay gia đình anh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho cho bị cáo.

Người liên quan anh Lê Minh T khai chiếc xe Mô tô biển kiểm soát 47S1-085.07 là tài sản của anh Lê Anh T, sau tai nạn xe bị hỏng và bị cáo và anh T đã thỏa thuận, anh T đã nhận đủ số tiền bồi thường 15.000.000đ.

Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột vẫn giữ nguyên Bản cáo trạng số 224/CT-VKSTP.BMT ngày 29/7/2019, đồng thời phân tích tính chất nguy hiểm cho xã hội về hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị HĐXX:

1. Áp dụng điểm a khoản 1, Điều 260, điểm b s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.

2. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 584, 585 và Điều 590 Bộ luật dân sự:

- Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc gia đình nạn nhân ông Lê Đăng T yêu cầu bị cáo Nguyễn Phi H phải bồi thường các khoản chi phí cấp cứu, mai táng cho nạn nhân và tiền tổn thất tinh thần và các khoản chi phí khác là 110.000.000đồng. Bị cáo Nguyễn Phi H đã bồi thường số tiền 110.000.000đồng cho gia đình nạn nhân ông Lê Đăng T. Anh Lê Duy Tr là đại diện hợp pháp cho gia đình nạn nhân đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu bồi thường gì thêm và tự nguyện viết đơn bãi nại cho bị cáo.

Chấp nhận việc bị cáo Nguyễn Phi H đã bồi thường số tiền 15.000.000đồng cho anh Lê Anh T để sửa chữa xe Mô tô biển kiểm soát 47S1-085.07 bị hư hỏng, anh T đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Về tang vật vụ án: Đối với 01 xe Ôtô biển kiểm soát 47A-193.89, cùng những giấy tờ liên quan, quá trình điều tra xác định là tài sản của bị cáo Nguyễn Phi H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị cáo Nguyễn Phi H là phù hợp, đề nghị HĐXX chấp nhận.

Đối với 01 xe Mô tô biển kiểm soát 47S1-085.07, cùng những giấy tờ liên quan, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Lê Anh T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh T. Tuy nhiên, do anh T đi Nhật Bản học tập nên uỷ quyền cho anh Lê Minh T nhận thay, đề nghị HĐXX chấp nhận.

Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C, số 660164024180 do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 11/12/2016, mang tên Nguyễn Phi H, trả lại cho bị cáo H, nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm việc xét xử.

Bị cáo, đại diện hợp pháp người bị hại, người liên quan không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Tp. Buôn Ma Thuột. Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo không có đơn thư khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án. Mặc dù bị cáo đã có giấy phép lái xe theo quy định. Tuy nhiên, trong quá trình điều khiển xe đã không tuân thủ các quy định về an toàn giao thông, không chú ý quan sát khi tránh xe ngược chiều, lấn sang phần đường bên trái nên đã để xe ô tô do mình điều khiển đâm vào xe mô tô Biển kiểm soát 47S1-085.07 do ông Lê Đăng T điều khiển, hậu quả làm ông T tử vong. Hành vi của bị cáo đã vi phạm Khoản 1, Điều 9 và khoản 1 Điều 17 Luật giao thông đường bộ và đã cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 260 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) …………………………………………………………………..”

Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Ngoài việc xâm hại đến tính mạng của ông T còn xâm hại đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây lo lắng trong quần chúng nhân dân trong việc tham gia giao thông. Bị cáo điều khiển loại xe ô tô, mặc dù đã có giấy phép lái xe theo quy định nhưng bị cáo đã không tuân thủ các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Khi tham gia giao thông đã không chú ý quan sát, tránh vượt không đúng quy định dẫn đến tai nạn làm thiệt hại đến tính mạng của ông Lê Đăng T. Xét về tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây là nghiêm trọng, nên cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Xét thấy, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Bị cáo xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, chưa có tiền án tiền sự, sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường toàn bộ chi phí mai táng và các khoản chi phí hợp lý khác cho gia đình người bị hại và được gia đình người bị hại làm đơn bãi nại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ nên khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Với những phân tích và nhận xét trên HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo, giáo dục tại địa phương dưới sự giám sát giáo dục của gia đình và xã hội cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành những công dân tốt, có ích cho xã hội.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 584, 585 và Điều 590 Bộ luật dân sự:

- Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc gia đình nạn nhân ông Lê Đăng T yêu cầu bị cáo phải bồi thường các khoản chi phí cấp cứu, mai táng cho nạn nhân và tiền tổn thất tinh thần và các khoản chi phí khác là 110.000.000đồng. Bị cáo đã bồi thường số tiền 110.000.000đồng cho gia đình nạn nhân ông Lê Đăng T. Anh Lê Duy Tr là đại diện hợp pháp cho gia đình nạn nhân ông Lê Đăng T đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu bồi thường gì thêm và tự nguyện viết đơn bãi nại cho bị cáo. Xét sự thỏa thuận trên là hoàn hoàn toàn hợp pháp và tự nguyện, cần chấp nhận.

Chấp nhận việc bị cáo đã bồi thường số tiền 15.000.000đồng cho anh Lê Anh T để sửa chữa xe Mô tô biển kiểm soát 47S1-085.07 bị hư hỏng, anh T đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

- Về tang vật vụ án: Đối với xe Ôtô biển kiểm soát 47A-193.89, cùng những giấy tờ liên quan, quá trình điều tra xác định là tài sản của bị cáo Nguyễn Phi H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị cáo là phù hợp, cần chấp nhận.

Đối với xe Mô tô biển kiểm soát 47S1-085.07, cùng những giấy tờ liên quan, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Lê Anh T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh T. Tuy nhiên do anh T đi Nhật Bản học tập nên uỷ quyền cho anh Lê Minh T nhận thay là phù hợp.

Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C, số 660164024180 do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 11/12/2016, mang tên Nguyễn Phi H, xét thấy cần trả lại cho bị cáo H sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phi H phạm tội““Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phi H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gia thử thách là 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Phi H cho UBND Thị trấn K, huyện Kr N, tỉnh Đắk Lắk nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Trong thời gian thử thách bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Luật thi hành án hình sự để giải quyết. Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

2. Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 584, 585 và 591 Bộ luật dân sự:

- Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc gia đình nạn nhân ông Lê Đăng T yêu cầu bị cáo phải bồi thường các khoản chi phí cấp cứu, mai táng cho nạn nhân và tiền tổn thất tinh thần và các khoản chi phí khác là 110.000.000đồng. Bị cáo đã bồi thường số tiền 110.000.000đồng cho gia đình nạn nhân ông Lê Đăng T. Anh Lê Duy Tr là đại diện hợp pháp cho gia đình nạn nhân ông Lê Đăng T đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu bồi thường gì thêm và tự nguyện viết đơn bãi nại cho bị cáo Nguyễn Phi H.

Chấp nhận việc bị cáo đã bồi thường số tiền 15.000.000đồng cho anh Lê Anh T để sửa chữa xe Mô tô biển kiểm soát 47S1-085.07 bị hư hỏng, anh T đã nhận đủ số tiền trên.

- Về tang vật vụ án:

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe Ôtô biển kiểm soát 47A-193.89, cùng những giấy tờ liên quan cho bị cáo Nguyễn Phi H.

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh T 01 xe Mô tô biển kiểm soát 47S1-085.07, cùng những giấy tờ liên quan (Do anh T đi Nhật Bản học tập nên uỷ quyền cho anh Lê Minh T nhận thay) là phù hợp.

Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C, số 660164024180 do Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 11/12/2016, mang tên Nguyễn Phi H, cần trả lại cho bị cáo H sau khi án có hiệu lực pháp luật.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy đinh về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí của Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Phi H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ