- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Văn Nh được ly hôn chị Phan Thị L
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 219/2019/HNGĐ-ST Ngày: 27/9/2019 V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƢƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Anh
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Nguyễn Mạnh Cường
2. Bà: Trần Thị Minh Hợi
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Đạt
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tham gia phiên tòa: không tham gia
Ngày 27 tháng 9 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 194/2019/TLST - HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2019, về việc: "Tranh chấp Hôn nhân và gia đình". Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2019/QĐST-DS ngày 18 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: anh Nguyễn Văn Nh, Sinh năm: 1992
Nơi cư trú: xóm 05, xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An - Có mặt tại phiên tòa.
Bị đơn: chị Phan Thị L, sinh năm: 1997
Nơi cư trú: xóm 05, xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An – Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, trong bản tự khai, tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Bá Nh trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: anh kết hôn với chị Phan Thị L vào ngày 05/3/2018, do hai người tự nguyện tìm hiểu và khi kết hôn có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương. Tuy nhiên hai gia đình chưa tổ chức đám cưới thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống dẫn đến không thể tổ chức đám cưới, hai gia đình đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Nay anh Nh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị Phan Thị L
Về nuôi con chung: vợ chồng không có con chung
Về chia tài sản: vợ chồng không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết, Toà án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng chị Phan Thị L không có mặt tuy nhiên chị L có đơn xin xét xử vắng mặt trình bày nguyện vọng của chị là nhất trí ly hôn với anh Nguyễn Văn Nh, vợ chồng không có con chung nên chị không yêu cầu giải quyết về con chung, chị không yêu cầu giải quyết về phân chia tài sản
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định.
1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn anh Nguyễn Văn Nh và chị Phan Thị L kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tràng Sơn, huyện Đô Lương. Do vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nên nguyên đơn khởi kiện, Tòa án nhân dân huyện Đô Lương thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền được qui định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự.
2. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn là chị Phan Thị L vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt chị L là phù hợp quy định tại Điều 228 BLTTDS năm 2015.
3. Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy anh Nguyễn Văn Nh và chị Phan Thị L có đăng ký kết hôn, vì vậy là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn nhưng chưa tổ chức đám cưới thì hai bên đã xẩy ra mâu thuẫn, hai gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành, cho đến hôm nay vợ chồng không thể quay về sống chung với nhau được, nên anh Nh đã làm đơn yêu cầu ly hôn. Mặc dù anh Nh có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án, nhưng quá trình giải quyết vụ án Toà án đã kiên trì hoà giải để anh Nh quy lại đoàn tụ nhưng anh Nh xét thấy vợ chồng không đoàn tụ lại được, mâu thuẫn của vợ chồng thực sự trầm trọng, không thể quay trở lại xây dựng hạnh phúc được, tình cảm của anh đối với chị L đã không còn. Trước Tòa hôm nay, anh Nh vẫn khẳng định tình cảm giữa anh đối với chị Nh đã không còn, không thể đoàn tụ được, mâu thuẫn đã quá lớn và anh xin được Tòa án giải quyết ly hôn với chị Phan Thị L.
Tại phiên tòa chị Phan Thị L không có mặt tuy nhiên chị L có đơn xin xét xử vắng mặt nguyện vọng của chị L muốn ly hôn với anh Nguyễn Văn Nh
Xét thấy mâu thuẫn giữa hai vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy xử cho anh Nh được ly hôn chị L là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con chung: vợ chồng không có con chung
Về chia tài sản: vợ chồng không yêu cầu nên HĐXX không xem xét
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; Nghị quyết 326 về án phí, lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Văn Nh được ly hôn chị Phan Thị L
2. Về nuôi con chung: vợ chồng không có con chung
3. Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
4. Về án phí: Buộc anh Nguyễn Văn Nh phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn, nhưng được tính trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nạp tại biên lai số 0005464 ngày 16/8/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Đô Lương; - Chi cục THADS huyện Đô Lương; - UBND xã Tràng Sơn; - Các đương sự; - Lưu HS. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Nguyễn Đức Anh |