- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 219/2018/HS-ST Ngày: 29/8/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lại Nguyệt Ánh
- Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Đoàn Xuân Miễn
2/ Bà Nguyễn Thị Thu Hảo
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng - Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Phạm Sỹ Nguyên - Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 29/8/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 228/2018/HSST ngày 17 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 231/2018/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN TIẾN D – sinh năm:1980; Tên thường gọi khác: không; HKTT: tập thể M, phường B, quận H, Hà Nội; Chỗ ở: Lang thang; Nghề nghiệp: tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hoá: 05/12; Con ông: Nguyễn Văn T; Con bà: Trịnh Thị H;Tiền án, tiền sự: Không. Danh chỉ bản số 0226 lập ngày 26/4/2018 do công an Quận Hai Bà Trưng cung cấp; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 23/4/2018.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10h ngày 23/4/2018, tại khu vực ngã tư Trần Khát Chân – Phố Huế, phường Phố Huế, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Nguyễn Tiến D gặp đối tượng K (là bạn xã hội, D không biết tên thật và địa chỉ).K cho D 01 gói ma túy được bọc trong túi nilon. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, có một nam thanh niên không quen biết dùng số điện thoại 0986147178 gọi đến số điện thoại 01632750185 của D hỏi mua ma túy. Do đang có sẵn ma túy trong người,D đồng ý bán cho nam thanh niên trên 01 gói ma túy “đá’ với giá 200.000 đồng, thỏa thuận giao ma túy tại ngõ 12 phố Kim Ngưu, phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Sau khi thỏa thuận, D điều khiển xe máy Honda Airblede BKS: 29E1 – 20209 đi đến đầu ngõ 12 phố Kim Ngưu, khi đang chuẩn bị giao ma túy cho khách thì bị tổ công tác – Công an phường Cầu Dền yêu cầu kiểm tra hành chính. Lợi dụng sơ hở, nam thanh niên mua ma túy bỏ chạy thoát. Nguyễn Tiến D tự nguyện lấy từ trong túi quần sau bên phải ra giao nộp 01 gói nylon bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng. Tại chỗ D khai nhận là ma túy đang bán cho khách. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của D: 01 điện thoại di động Nokia màu đen nắp màu xanh đã qua sử dụng bên trong có sim số 01655575751;01 điện thoại di động Nokia màu trắng đã qua sử dụng bên trong có sim số 01632750185; 01 xe máy Honda Airblede BKS: 29E1 – 20209 (số khung: 602231, số máy: 4255959) và số tiền 630.000 đồng. Tổ công tác đã đưa D cùng tang vật, phương tiện về trụ sở để giải quyết.
Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Hai Bà Trưng đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với tang vật thu giữ của Nguyễn Tiến D.Tại bản kết luận giám định số 3854/PC54 ngày 03 tháng 5 năm 2018của Phòng kỹ thuật Hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) gói nilon thu giữ của Nguyễn Tiến D là ma túy loại Methamphetamin, khối lượng 0,467 gam”.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Tiến D khai nhận hành vi phạm tội như trên. Lần đầu có hành vi bán trái phép chất ma túy, chưa kịp hưởng lợi thì bị bắt. Về các đồ vật, phương tiện bị thu giữ, D khai số tiền 630.000 đồng và 02 chiếc điện thoại bị thu giữ là tài sản của bản thân, đã sử dụng chiếc điện thoại Nokia bên trong có sim số 0163275018 để liên lạc mua bán ma túy.
Kết quả dẫn giải:Nguyễn Tiến D xác định địa điểm được đối tượng K cho gói ma túy tại khu vực ngã tư Trần Khát Chân – Phố Huế, phường Phố Huế, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội nhưng không xác định được đối tượng K nên Cơ quan Điều tra không có cơ sở để xác minh, xử lý.
Đối với chiếc xe máy thu giữ của Nguyễn Tiến D, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu chiếc xe máy Honda Airblede (số khung: 602231, số máy: 4255959) là anh Lê Đức T. Kết quả giám định xe có số khung, số máy nguyên thủy, không phải là tang vật trong các vụ án khác. Anh T khai bị mất chiếc xe máy trên vào tháng 7/2017. Nguyễn Tiến D khai trước khi bị bắt mượn chiếc xe trên của bạn xã hội, không biết tên thật và địa chỉ. Sau khi đăng báo tìm người liên quan nhưng không đạt kết quả, Cơ quan Điều tra đã ra quyết định tách các tài liệu liên quan đến vụ việc trộm cắp chiếc xe máy Honda Airblede (số khung: 602231, số máy: 4255959) và trả lại chiếc xe máy trên cho chủ sở hữu. Anh T nhận lại xe, không yêu cầu, đề nghị về dân sự.
Đối với biển kiểm soát: 29E1 – 20209 qua tra cứu cho thấy được cấp cho xe máy Honda Vision của chị Nguyễn Thị Thúy H (sinh năm: 1976, trú tại ngõ H, phường T, quận Đ, Hà Nội). Tháng 10/2017, chị H bị mất BKS chiếc xe máy trên và đã được cơ quan chức năng cấp lại BKS. Cơ quan Điều tra đã chuyển vật chứng là chiếc BKS: 29E1 – 20209 đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại cáo trạng số 231/CT-VKS ngày 15/8/2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Tiến D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 251 khoản 1 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
Bị cáo khai nhận tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận: Khoảng 18 giờ ngày 23/4/2018, tại khu vực đầu ngõ 12 phố Kim Ngưu, phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, bị cáo đã có hành vi mua bán trái phép 0,467 gam Methamphetamin. Bị cáo nhận tội, xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 251 khoản 1; Điều 51 khoản 1 điểm s; của BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt: Nguyễn Tiến D với mức án từ 24 đến 30 tháng tù. Do bị cáo không nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,467 gam Methamphetamin, tịch thu sung công 01 điện thoại di động một điện thoại di động của bị cáo và một điện thoại di động của người mua ma túy của bị cáo.
Trả lại bị cáo 630.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng của quận Hai Bà Trưng thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử.
Về hành vi và tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Tiến D tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra. Được chứng minh bằng tang vật vụ án thu được từ trong túi quần sau bên phải của Nguyễn Tiến D là 01 gói nylon bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng. Theo Kết luận giám định số 3854/PC54 ngày 03 tháng 5 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự công an thành phố Hà Nội: Tinh thể màu trắng bên trong 01 ( một ) gói nilon thu giữ của Nguyễn Tiến D là ma túy loại Methamphetamin, khối lượng 0,467 gam, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 23/4/2018, tại khu vực đầu ngõ 12 phố Kim Ngưu, phường Thanh Nhàn, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, Nguyễn Tiến D đã có hành vi mua bán trái phép 0,467 gam Methamphetamin. Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nhưng do hám lời vẫn cố tình phạm tội.Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội :” Mua bán trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 251 khoản 1 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về nhân thân, tiền án, tiền sự và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Về tiền án, tiền sự và nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự
- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Khi lượng hình, Tòa án đã xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để từ đó có hình phạt tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể:
+ Tình tiết tăng nặng: Không có
+ Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu tiên bị đưa ra truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về tội lỗi của mình. Đây là tình tiết để giảm nhẹ, cần áp dụng Điều 51 khoản 1 điểm s Bộ luật hình sự 2015 giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt:
- Hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Tiến D là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước ta, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo đã góp phần làm gia tăng lượng người nghiện, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội.Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình phạm tội. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
- Về hình phạt bổ sung: xét trong trường hợp này bị cáo không nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn phạt tiền.
Về biện pháp tư pháp: cần áp dụng Điều 47 khoản 1,2 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 khoản 2 điểm a điểm c, khoản 3 điểm a Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy bên trong có 0,467 gam ma túy tổng hợp Methamphetamin đã được niêm phong có chữ ký của giám định viên và bị cáo Nguyễn Tiến D.
Đối với chiếc biển kiểm soát xe máy 29E1 – 20209: qua tra cứu được cấp cho xe máy Honda Vision của chị Nguyễn Thị Thúy H . Tháng 10/2017, chị H bị mất biển kiểm soát chiếc xe máy trên và đã được cơ quan chức năng cấp lại biển kiểm soát. Vì vậy, chiếc biển kiểm soát 29E1 – 20209 không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 02 điện thoại di động thu giữ của bị cáo:Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Nokia màu đen nắp màu xanh đã qua sử dụng. Tịch thu sung công 01 điện thoại di động Nokia màu trắng đã qua sử dụng do có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Đối với số tiền 630.000 đồng thu giữ của bị cáo: Trả lại bị cáo do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Điều 251 khoản 1; Điều 51 khoản 1 điểm s; Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Nguyễn Tiến D 24 ( hai mươi tư ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2018.
- Căn cứ Điều 47 khoản 1,khoản 2 Bộ luật hình sự 2015 và Điều 106 khoản 2 điểm a điểm c, khoản 3 điểm a Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy bên trong có 0,467 gam ma túy tổng hợp Methamphetamin đã được niêm phong có chữ ký của giám định viên và bị cáo Nguyễn Tiến D.
Tịch thu tiêu hủy 01 biển kiểm soát xe máy 29E1 – 20209.
Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Nokia màu đen nắp màu xanh ( số imeil 1:356900077957166, imeil 2: 3569000779571740 ) và 630.000 đồng .
Tịch thu sung công 01 điện thoại di động Nokia màu trắng ( số imeil: 357318085361645; imeil 2: 357322080539148 ).
( Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 21 tháng 8 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng, số tang vật: 259/18; Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 16/8/2018 tại Kho bạc Nhà nước quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội ).
- Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 khoản 1; Điều 332; Điều 333; Điều 336; Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 21 khoản 1 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cùng danh mục kèm theo.
Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| NƠI NHẬN : - Bị cáo - Viện kiểm sát Quận Hai Bà Trưng - Công an Quận Hai Bà Trưng - Chi cục THA dân sự Q. Hai Bà Trưng - Lưu hồ sơ. HỘI THẨM NHÂN DÂN | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lại Nguyệt Ánh THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |