vanban.org

Bản án 219/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

hôn nhân gia đình năm 2014;

vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Kim C. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? hôn nhân gia đình năm 2014;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THẠNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
_______________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 219/2018/HNGĐ-ST
Ngày 29 tháng 01 năm 2018
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hồ Minh Thuận

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Bùi Thị Cẩm Vân

Bà Nguyễn Thị Nhơn

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Ngọc Trà, cán bộ Tòa án nhân

dân quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh.

Ngày 29 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thạnh,

Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2559/2017/TLST-

HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2017 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ

án ra xét xử số 04/2018/QĐST-HNGĐ ngày 08/1/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1969; Địa chỉ: Số 1/18 đường X,

huyện Y, tỉnh T (có đơn xin vắng mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1971; Địa chỉ: Số 1/18 đường X,

huyện Y, tỉnh T (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngày 21/12/2017 Toà án nhân dân quận Bình Thạnh thụ lý vụ án Hôn nhân gia

đình sơ thẩm về tranh chấp “Ly hôn”, do Bà Nguyễn Thị Kim C khởi kiện yêu cầu ly

hôn với ông Nguyễn Hoàng H.

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai tại Toà án Bà Nguyễn Thị Kim C trình bày: Bà

và ông Nguyễn Hoàng H sống chung với nhau từ năm 1993 nhưng không đăng ký kết

hôn. Trong quá trình chung sống bà cảm thấy ông Nguyễn Hoàng Hvà bà luôn bất

đồng quan điểm nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, đời sống vợ chồng không hòa

hợp. Nay tình cảm vợ chồng đã hết, do đó bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly

hôn với ông Nguyễn Hoàng H.

Về con chung: Có hai con chung tên Nguyễn Hoàng Phúc, sinh năm 1994 (đã

trưởng thành) và Nguyễn Hoàng H Đăng, sinh ngày 23/01/2000. Bà muốn được trực

tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung tên là Nguyễn Hoàng H Đăng. Bà

không yêu cầu ông Nguyễn Hoàng Hcấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Toàn án giải quyết.

Tại bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hòa giải ngày 04/01/2018 ông Nguyễn Hoàng H trình bày: Ông và Bà Nguyễn Thị Kim C sống chung với nhau từ năm 1993 nhưng không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống ông cảm thấy Bà Nguyễn Thị Kim C và ông luôn bất đồng quan điểm nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, đời sống vợ chồng không hòa hợp. Nay tình cảm vợ chồng đã hết, do đó ông đồng ý ly hôn với Bà Nguyễn Thị Kim C.

Về con chung: Có hai con chung tên Nguyễn Hoàng Phúc, sinh năm 1994 (đã

trưởng thành) và Nguyễn Hoàng H Đăng, sinh ngày 23/01/2000. Giao cho Bà Nguyễn Thị Kim C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung tên là Nguyễn Hoàng H Đăng. Ông Nguyễn Hoàng H không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa,

Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Bà Nguyễn Thị Kim C khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với Ông Nguyễn Hoàng

Hlà quan hệ tranh chấp về Hôn nhân và gia đình, hiện ông Nguyễn Hoàng H đang sống tại Đường số 57/12L Điện Biên Phủ, Phường 15, quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.

Do Bà Nguyễn Thị Kim C và ông Nguyễn Hoàng H chung sống như vợ chồng

từ năm 1993, không đăng ký kết hôn là trái pháp luật, nên theo qui định tại khoản 2 Điều 206 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải về phần hôn nhân, mà chỉ lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hòa giải về phần “con chung, tài sản chung, nợ chung” và đưa vụ án ra xét xử.

Về hình thức:

Tòa án đã triệu tập hợp lệ nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Kim C và bị đơn ông

Nguyễn Hoàng H nhưng các đương sự đều có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ theo Khoản 1 Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: Nam, nữ có đủ

điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.

Bà Nguyễn Thị Kim C và ông Nguyễn Hoàng H chung sống với nhau như vợ

chồng từ năm 1993 nhưng không đăng ký kết hôn cho đến thời điểm Tòa án thụ lý vụ án, ông Nguyễn Hoàng H vẫn chưa đăng ký kết hôn, nên cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Kim C và ông Nguyễn Hoàng H.

Hai bên xác nhận : Về con chung có hai con chung tên Nguyễn Hoàng Phúc,

sinh năm 1994 (đã trưởng thành) và Nguyễn Hoàng H Đăng, sinh ngày 23/01/2000. Hai bên thỏa thuận giao con chung tên Nguyễn Hoàng H Đăng cho Bà Nguyễn Thị Kim C trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị Kim C không yêu cầu ông Nguyễn Hoàng H cấp dưỡng nuôi con. Xét nguyện vọng cháu Nguyễn Hoàng H Đăng là được sống chung với mẹ do đó Hội đồng xét xử xét thấy việc thỏa thuận trên là có cơ sở

chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí, Bà Nguyễn Thị Kim C chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ

thẩm là 300.000 đồng theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của

Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39,

Điều 147, Điều 206, Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân

sự;

Căn cứ Điều 14, Điều 15, Điều 16, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật

hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường

vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Kim C.

Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa Bà Nguyễn Thị Kim C và Ông Nguyễn

Hoàng H.

Về con chung: có hai con chung tên Nguyễn Hoàng Phúc, sinh năm 1994 (đã

trưởng thành) và Nguyễn Hoàng H Đăng, sinh ngày 23/01/2000. Giao con chung tên

Nguyễn Hoàng H Đăng cho Bà Nguyễn Thị Kim C trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự

tự nguyện của Bà Nguyễn Thị Kim C không yêu cầu ông Nguyễn Hoàng H cấp dưỡng

nuôi con.

Ông Nguyễn Hoàng H được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì

quyền lợi của con, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như

mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên khai không có, không yêu cầu Tòa án giải

quyết.

2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm Bà Nguyễn Thị Kim C chịu 300.000 đồng,

nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0003644

ngày 21/12/2017 của Chi cục thi án dân sự quận Bình Thạnh, Bà Nguyễn Thị Kim C

đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Bà Nguyễn Thị Kim C và Ông Nguyễn Hoàng Hcó quyền kháng cáo trong

thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ