vanban.org

Bản án 219/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 10/07/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Buộc ông Phạm Công N phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T số nợ còn lại của Hợp đồng thẻ tín dụng ký ngày 25/07/2014 tính đến ngày 5/03/2018 là 21.520.663 đồng (trong đó nợ gốc là 13.082.515 đồng, nợ lãi là 8.438.148 đồng). Trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN T
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:219/2018/DS – ST
Ngày: 10-07-2018
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T, THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Mỹ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Ngọc Đúng

2. Bà Trần Thị Thu Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, Thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Dân – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận T - Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 21/2018/TLST- DS ngày 16 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2018/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 06 năm 2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 74 /2018/QĐST-DS ngày 22 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương T;

Địa chỉ: số 266-268 (Lầu 8), đường N, phường 8, quận 3, Thành phố H.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lã Ngọc M, sinh năm 1970; địa chỉ: số 11/5/15, khu phố 2A, phường Đ, quận 12, Thành phố H.

(Văn bản ủy quyền số 1551/2017/UQ-TTT ngày 30/11/2017).

- Bị đơn: Ông Phạm Công N, sinh năm 1988;

Địa chỉ: số 430, đường T, phường S, quận T, Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/11/2017 của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án ông Lã Ngọc M là người đại diện của nguyên đơn trình bày:

Ngày 25/07/2014 Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T (gọi tắt là Ngân hàng S) có ký kết hợp đồng tín dụng và đề nghị cấp thẻ ngày 25/07/2014 thẻ Motor Card.

Hợp đồng tín dụng và đề nghị cấp thẻ ngày 25/07/2014 có nội dung thỏa thuận như sau:

Ngân hàng S cấp thẻ Motor Card cho ông là Phạm Công N hạn mức tiếu dùng và rút tiền 20.000.000 đồng để sử dụng vào mục đích tiêu dùng cá nhân với lãi suất 3.225%/01 tháng.

Thực hiện hợp đồng ông Phạm Công N đã giao dịch số tiền 19.700.000 đồng và thanh toán cho Ngân hàng S là 17.812.000 đồng(cả gốc và lãi). Tính đến ngày 05/03/2018 ông N còn nợ Ngân hàng là 21.520.663 đồng (trong đó nợ gốc là 13.082.515 đồng, nợ lãi là 8.438.148 đồng)

Nay đại diện nguyên đơn yêu cầu ông Phạm Công N thanh toán khoản nợ còn thiếu của Ngân hàng S trên tính đến ngày 05/03/2018. Yêu cầu thanh toán một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày 06/03/2018 ông Phạm Công N còn phải tiếp tục chịu khoản lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng ký ngày ngày 25/07/2014 với Ngân hàng S cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Nguyên đơn – Ngân hàng S do ông Lã Ngọc M làm đại diện theo ủy quyền vẫn giữ các ý kiến yêu cầu trên.

- Bị đơn – ông Phạm Công N đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tòa án không lấy được lời khai cũng như không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật: Đương sự, Thư ký và Hội đồng xét xử đều tuân theo pháp luật tố tụng qui định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 68, Điều 69, khoản 2 Điều 97, Điều 171, Điều 173, Điều 203 và Điều 220, Điều 227, Điều 248, Điều 260 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

+ Về nội dung: Ngày 25/07/2014 Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T (gọi tắt là Ngân hàng S) có ký kết hợp đồng tín dụng và đề nghị cấp thẻ ngày 25/07/2014 thẻ Motor Card cho ông là Phạm Công N và ông N đã giao dịch số tiền 19.700.000 đồng và ông N thanh toán cho Ngân hàng S là 17.812.000 đồng(cả gốc và lãi).

Nay Ngân hàng S yêu cầu ông Phạm Công N thanh toán tổng số tiền tính đến ngày 05/03/2018 ông N còn nợ Ngân hàng là 21.520.663 đồng (trong đó nợ gốc là 13.082.515 đồng, nợ lãi là 8.438.148 đồng).

Kể từ ngày 06/03/2018 ông Phạm Công N còn phải tiếp tục chịu khoản lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng ký ngày ngày 25/07/2014 với Ngân hàng S cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Yêu cầu thanh toán một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Do đó căn cứ vào điều khoản thỏa thuận của hợp đồng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: Căn cứ vào Điều 471, 473 Bộ luật dân sự 2015, chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1.Về quyền khởi kiện, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ đơn khởi kiện của Ngân hàng S, Hội đồng xét xử xác định vụ án trên là tranh chấp về hợp đồng tín dụng. Do bị đơn ông Phạm Công N cư trú tại quận T nên Tòa án nhân dân quận T thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại các khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn: ông Phạm Công N đã được Tòa án nhân dân quận T quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập theo khoản 1, khoản 2 Điều 177; khoản 2 Điều 220; khoản 3 Điều 233 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhưng ông Phạm Công N vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân quận T vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Phạm Công N.

2.Về yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng S:

- Xét yêu cầu Ngân hàng S yêu cầu ông Phạm Công N thanh toán tổng số tiền tính đến ngày 05/03/2018 ông N còn nợ Ngân hàng là 21.520.663 đồng (trong đó nợ gốc là 13.082.515 đồng, nợ lãi là 8.438.148 đồng). Kể từ ngày 06/03/2018 ông Phạm Công N còn phải tiếp tục chịu khoản lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng ký ngày ngày 25/07/2014 với Ngân hàng S cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

Căn cứ vào hợp đồng tín dụng cấp thẻ số Ngày 25/07/2014 cấp thêm thẻ Motor Card giữa Ngân hàng S và ông Phạm Công N mục đích vay tiêu dùng.

Ngân hàng S cấp thẻ cho ông là Phạm Công N hạn mức tiếu dùng và rút tiền 20.000.000 đồng để sử dụng vào mục đích tiêu dùng cá nhân với lãi suất 3.225%/01 tháng. Ông Phạm Công N đã giao dịch số tiền 19.700.000 đồng và thanh toán cho Ngân hàng S là 17.812.000 đồng(cả gốc và lãi). Tính đến ngày 05/03/2018 ông N còn nợ Ngân hàng là 21.520.663 đồng (trong đó nợ gốc là 13.082.515 đồng, nợ lãi là 8.438.148 đồng).

Ngân hàng S cấp thẻ thẻ Motor Card cho ông là Phạm Công N hạn mức tiếu dùng và rút tiền 20.000.000 đồng để sử dụng vào mục đích tiêu dùng cá nhân với lãi suất 3.225%/01 tháng. Ông Phạm Công N đã giao dịch số tiền 19.700.000 đồng và thanh toán cho Ngân hàng S là 17.812.000 đồng(cả gốc và lãi). Tính đến ngày 05/03/2018 ông N còn nợ Ngân hàng là 21.520.663 đồng (trong đó nợ gốc là 13.082.515 đồng, nợ lãi là 8.438.148 đồng). Do ông Phạm Công N vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 05/08/2016, nên nguyên đơn yêu cầu ông Phạm Công N thanh toán khoản nợ là là 21.520.663 đồng (trong đó nợ gốc là 13.082.515 đồng, nợ lãi là 8.438.148 đồng). Kể từ ngày 06/03/2018 ông Phạm Công N còn phải tiếp tục chịu khoản lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng ký ngày ngày 25/07/2014 với Ngân hàng S cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc, là phù hợp với điểm 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 qui định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật” nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

- Về thời hạn thanh toán: Xét thấy do ông Phạm Công N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được qui định trong hợp đồng tín dụng nên nguyên đơn yêu cầu trả một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở để chấp nhận.

3. Về án phí:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên ông Phạm Công N phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 6, điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. ông Phạm Công N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.076.000 đồng.

Hoàn trả toàn bộ số tiền tạm ứng án phí là 488.958 đồng cho Ngân hàng S theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010523 ngày 16/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận T.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Ñieàu 36; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 471; Điều 474 Bộ Luật Dân Sự năm 2005;

- Căn cứ vào Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ Điều 6; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

- Buộc ông Phạm Công N phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T số nợ còn lại của Hợp đồng thẻ tín dụng ký ngày 25/07/2014 tính đến ngày 5/03/2018 là 21.520.663 đồng (trong đó nợ gốc là 13.082.515 đồng, nợ lãi là 8.438.148 đồng). Trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 06/03/2018 ông Phạm Công N còn phải tiếp tục chịu khoản lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng ký ngày ngày 25/7/2014 với Ngân hàng S cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Phạm Công N phải chịu án phí là 1.076.000 đồng.

- Hoàn trả toàn bộ số tiền tạm ứng án phí là 488.958 đồng cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010523 ngày 16/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận T.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Quyền kháng cáo:

Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương T được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Phạm Công N được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự , người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6; 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ