vanban.org

Bản án 218/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Ngọc T. Cho bà Phạm Thị Ngọc T được ly hôn với ông Kiều Công T1. Về con chung: Giao cháu Kiều Thị Ngọc Y, sinh ngày 05/9/2012 cho bà Phạm Thị Ngọc T tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Ngọc T"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:218/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 30/6/2026
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi
con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Hà Huy Phong.

- Các Hội thẩm nhân dân: ông Đặng Văn Tâm và ông Tô Ngọc Liêm

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Tường Vi, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 176/2026/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2026 tranh chấp “ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 227/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 226/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Ngọc T, sinh ngày 30 tháng 12 năm 1982; căn cước công dân số: xxxxxx xxxxxx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ C cấp ngày 21/9/2022; địa chỉ: F, ấp M, xã N, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: tổ C, ấp V, xã V, tỉnh An Giang; (có đơn xin xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Kiều Công T1, sinh ngày 15 tháng 05 năm 1982; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; địa chỉ: F, M, xã N, tỉnh An Giang,(vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Ngọc T trình bày: Bà và ông Kiều Công T1 sống chung với nhau năm 2022, hôn nhân do mai môi, vợ chồng có tố chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C (nay là xã N), tỉnh An Giang. Thời gian đầu, bà và ông T1 chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2023, xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Hiện tại, bà và ông T1 đã sống ly thân. Nay tình cảm không còn bà xin ly hôn với ông Kiều Công T1.

- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung Kiều Minh T2, sinh ngày 4/7/2006 (đã trưởng thành); Kiều Thị Ngọc Y, sinh ngày 5/9/2012; con Kiều Thị Ngọc Y hiện đang sống chung với bà T, yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng. Cháu Kiều Minh T2 đã trưởng thành, có khả năng lao động không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp: Tờ tự khai và đơn khởi kiện ngày 05/3/2026; Giấy chứng nhận kết hôn số 173, Quyển số 01/2005.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên hòa giải để động viên bà T, ông T1 xóa bỏ những bất đồng quan điểm, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với ông T1; ông T1 được triệu tập nhưng đều vắng mặt, không thể hiện thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án theo quy định pháp luật. Tại bản thông tin xác nhận nơi cư trú được đại diện Công an xã N cung cấp thông tin ông Kiều Công T1 vẫn còn đăng ký cư trú tại ấp M, xã N, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, bà T có đơn xin xử vắng mặt, vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với ông T1; về con chung: cháu Kiều Thị Ngọc Y hiện đang sống chung với bà T, sau khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng. Cháu Kiều Minh T2 đã trưởng thành, có khả năng lao động không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông T1 vắng mặt nên Tòa án không thể hòa giải và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án như sau:

- Về tố tụng: Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Ý kiến giải quyết vụ án: Bà T và ông T1 tìm hiểu, tiến tới hôn nhân, hai bên gia đình có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M (nay là xã N), tỉnh An Giang vào năm 2005; do đó, có căn cứ xác định hôn nhân của ông, bà là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật thừa nhận, bảo vệ. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên không tìm được tiếng nói chung, không thể hàn gắn. Vì vậy, bà T yêu cầu được ly hôn với ông T1. Phía ông T1 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà T.

Xét thấy, hôn nhân giữa bà T và ông T1 là hoàn toàn tự nguyện và đã có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã, được xem là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ, mâu thuẫn giữa bà T và ông T1 xuất phát do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, nên không tìm được tiếng nói chung. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà T là có căn cứ, phù hợp với quy định theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung Kiều Minh T2, sinh ngày 4/7/2006; Kiều Thị Ngọc Y, sinh ngày 5/9/2012; con Kiều Thị Ngọc Y hiện đang sống chung với bà T, yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng. Con chung tên Kiều Minh T2 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu Y sống với bà T phát triển ổn định về thể chất, tinh thần nên tiếp tục giao cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc.

Về tài sản chung, nợ chung: tự thỏa thuận, không đề cập giải quyết.

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề xuất:

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Ngọc T đối với ông Kiều Công T1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Bà Phạm Thị Ngọc T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Kiều Công T1, được xác định là tranh chấp“Ly hôn, nuôi con chung” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về thẩm quyền: Bị đơn Kiều Công T1 có nơi cư trú tại địa bàn xã N, tỉnh An Giang.Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 – An Giang theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Về tính hợp pháp: Bà T, ông T1 do mai mối và tiến đến hôn nhân, không ai lừa dối hay ép buộc; có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh An Giang thuộc trường hợp hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận, bảo vệ.

Về tình trạng hôn nhân:

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày thường xuyên cự cãi, không tìm được tiếng nói chung, phát sinh nhiều mâu thuẫn và ly thân cho đến nay; bà T yêu cầu ly hôn, ông T1 không phản hồi, không có mặt. Bà T xác định không còn tình cảm với ông T1, kiên quyết xin được ly hôn; Với những căn cứ trên, có cơ sở xác định hôn nhân giữa bà T, ông T1 phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên chấp nhận yêu cầu của bà T xin ly hôn với ông T1 theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung Kiều Minh T2, sinh ngày 4/7/2006; Kiều Thị Ngọc Y, sinh ngày 5/9/2012; con Kiều Thị Ngọc Y hiện đang sống chung với bà T, yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng. Con chung tên Kiều Minh T2 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu Y sống với bà T phát triển ổn định về thể chất, tinh thần; nguyện vọng của cháu nếu cha mẹ ly hôn được sống cùng mẹ nên tiếp tục giao cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu, nên không đề cập;

Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật Tố tụng Dân sự. Ông T1 không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các Điều 144, 147, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Ngọc T. Cho bà Phạm Thị Ngọc T được ly hôn với ông Kiều Công T1.

2. Về con chung: Giao cháu Kiều Thị Ngọc Y, sinh ngày 05/9/2012 cho bà Phạm Thị Ngọc T tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.

Bà Phạm Thị Ngọc T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Kiều Công T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Kiều Thị Ngọc Y, sinh ngày 05/9/2012.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về tài sản chung, nợ chung: không đề cập giải quyết.

4. Về án phí: Bà Phạm Thị Ngọc T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu tiền số 302308 ngày 05 tháng 3 năm 2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh A; Bà T đã nộp xong.

Ông Kiều Công T1 không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bà Phạm Thị Ngọc T, ông Kiều Công T1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc được niêm yết bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ