vanban.org

Bản án 218/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Đồng Hữu C.

Buộc chị Lê Thị Tuyết M có nghĩa vụ trả cho anh Đồng Hữu C số tiền là 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng). Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày anh C có đơn yêu cầu thi hành án nếu chị M chậm trả tiền còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Đồng Hữu C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 218/2024/DS-ST
Ngày: 31-12-2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chinh

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Phùng Văn Long

2/ Ông Đỗ Thanh Hiền

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Trong ngày 31 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 348/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 242/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 158/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Đồng Hữu C, sinh năm: 1993.

Địa chỉ: ấp T, xã NB, huyện CT, tỉnh TG.

- Bị đơn: Lê Thị Tuyết M, sinh năm: 1971.

Địa chỉ: ấp H, xã KS, huyện CT, tỉnh TG.

(Anh C có mặt; chị M vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Đồng Hữu C trình bày:

Do quen biết, vào ngày 04/6/2024 anh C có cho chị Lê Thị Tuyết M vay số tiền là 30.000.000đồng, không lãi suất, thời hạn vay là 01 tháng. Khi vay có viết biên nhận và chị M có ký tên xác nhận. Tuy nhiên đến hạn trả tiền chị M không thực hiện kéo dài cho đến nay. Nay anh C yêu cầu chị Lê Thị Tuyết M trả số tiền là 30.000.000đồng, không yêu cầu tính lãi, thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn chị Lê Thị Tuyết M dù đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Lê Thị Tuyết M dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc vì trở ngại khách quan. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự theo thủ tục chung.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu của nguyên đơn Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ vào “Giấy cho mượn tiền” ngày 04/6/2024 có ghi thời điểm xác lập hợp đồng, số tiền vay, thời hạn trả nợ là hoàn toàn tự nguyện, thể hiện qua việc chị M đồng ý ký tên vào biên nhận. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định giữa anh C và chị M đã xác lập hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015. Quá trình thực hiện chị M đã vi phạm nghĩa vụ của bên vay, anh C có tạo điều kiện cho chị M trả nợ nhưng chị M không thực hiện kéo dài thời gian trả nợ gây thiệt thòi quyền lợi cho anh C nên cần buộc chị M có nghĩa vụ trả cho anh C số tiền vay là 30.000.000đồng là phù hợp quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của anh C là có cơ sở nên được chấp nhận.

Về lãi suất: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Bị đơn có nghĩa vụ chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 26, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 463, Điều 466, Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Đồng Hữu C.

Buộc chị Lê Thị Tuyết M có nghĩa vụ trả cho anh Đồng Hữu C số tiền là 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng). Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày anh C có đơn yêu cầu thi hành án nếu chị M chậm trả tiền còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

2/ Về án phí: Chị Lê Thị Tuyết M phải chịu 1.500.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại cho anh Đồng Hữu C số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 750.000đồng theo biên lai thu số 0011817 ngày 04/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niếm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ