vanban.org

Bản án 218/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Huế, TP. Huế Tuyên án 08/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủ…

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Phước Q (Tên gọi khác: Xị) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Phước Q 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (Ngày 07/4/2023); không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Phước Q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủ…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 218/2023/HS-ST
Ngày 08-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Ly.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Phương Nam.

2. Bà Trần Thị Bích Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Linh – Thư ký Tòa án Nhân dân thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Tạ Đình Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2023, tại phòng xử án Tòa án Nhân dân thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 194/2023/TLST-HS ngày 30/6/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184/2023/QĐXXST-HS ngày 25/7/2023 đối với:

- Bị cáo: Bùi Phước Q (Tên gọi khác: Xị), sinh ngày 10/7/2003 tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi cư trú: Số 14 Thanh Lam Bồ, phường Tây Lộc, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Không ổn định, trình độ văn hóa: Lớp 7/12, dân tộc: Kinh, giới tính: Nam, tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam. Con ông Bùi Văn L, sinh năm 1970 và bà Lê Thị Tố Ph, sinh năm 1971; vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ ngày 07/4/2023, tạm giam từ ngày 13/4/2023 cho đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Thông qua các mối quan hệ xã hội Bùi Phước Q biết một người đàn ông tên Lỳ không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ có bán ma túy. Do muốn có tiền tiêu xài Bùi Phước Q đồng ý tham gia giúp sức trong việc bán ma túy cùng Lỳ để hưởng tiền công, mỗi lần giao ma túy thành công Lỳ trả công cho Bùi Phước Q số tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng. Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 06/4/2023 thông qua mạng xã hội Telegram, Lỳ nhắn tin cho Bùi Phước Q và nói với Bùi Phước Q đến quán Cây Sung, sau lưng trường Trung học cơ sở Nguyễn Tri Phương, phường Xuân Phú, thành phố H để nhận ma túy đi giao bán cho khách với số tiền 6.700.000 đồng thì Bùi Phước Q đồng ý và thuê xe chở đi đến quán Cây Sung để lấy ma túy ở trên lề đường theo hướng dẫn của Lỳ. Lấy được ma túy Bùi Phước Q cất giấu vào trong túi xách màu đen đang mang trên người rồi tiếp tục thuê xe đi đến kiệt 46 đường Chu Văn An, thành phố H để giao ma túy cho khách. Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 07/4/2023, khi đến kiệt 46 đường Chu Văn An, thành phố H; Bùi Phước Q xuống xe đi bộ thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang; tạm giữ số ma túy trong túi xách màu đen mà Bùi Phước Q đang mang trên người và tiến hành niêm phong theo quy định.

* Vật chứng tạm giữ gồm: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã tạm giữ gồm:

- 01 túi ni lông màu trắng viền đỏ bên trong chứa 06 viên nén màu nâu nhạt và 02 túi ni lông màu trắng viên đỏ bên trong chứa tinh thể màu trắng. Tất cả được niêm phong theo quy định của pháp luật.

- 01 túi xách màu đen có quai mang trên nền xách có chữ Dior.

- 01 điện thoại di động hiệu iPhone số Imer 355321080044747.

* Tại bản kết luận giám định số 179/KL-KTHS ngày 10/4/2023, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận:

- 06 viên nén màu nâu nhạt gửi giám định có tổng khối lượng là 2,9239g là ma túy, loại MDMA.

- Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định có khối lượng là 3,3065g là ma túy, loại Ketamine.

Sau khi giám định, Cơ quan giám định đã hoàn lại đối tượng giám định và đang tạm giữ gồm:

- 2,7739g mẫu bột được nghiền từ 06 viên nén màu nâu nhạt.

- 3,2065g mẫu tinh thể rắn màu trắng.

- Các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.

Tất cả được niêm phong theo quy định của pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số 211/CT-VKSTPH ngày 30/6/2023, Viện kiểm sát Nhân dân thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố Bùi Phước Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố H giữ nguyên bản Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

Về hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Phước Q mức hình phạt từ 02 năm 09 tháng tù đến 03 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Phước Q.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu iPhone của bị cáo Bùi Phước Q; tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi giám định, các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong; 01 túi xách màu đen có quai mang trên nền xách có chữ Dior.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Bùi Phước Q phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Ý kiến tranh luận của bị cáo: Bị cáo Bùi Phước Q đồng ý với bản luận tội, không tranh luận gì thêm.

Lời nói sau cùng của bị cáo Bùi Phước Q: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng có đủ căn cứ vững chắc kết luận: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 06/4/2023, tại số 46 đường Chu Văn An, phường Phú Hội, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H bắt quả tang bị cáo Bùi Phước Q đang tàng trữ trái phép 2,9239 gam ma túy loại MDMA và 3,3065 gam ma túy loại Ketamine để đem đi bán trái phép giúp cho người đàn ông tên Lỳ để lấy tiền công theo thỏa thuận. Tổng tỷ lệ phần trăm của 02 chất ma túy được tính theo quy định tại Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ là 74,9%, dưới 100% nên đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát Nhân dân thành phố H truy tố bị cáo Bùi Phước Q là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Phước Q gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền về ma túy của Nhà nước, làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tiếp tục cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét cho bị cáo Bùi Phước Q được hưởng tình tiết giảm nhẹ là quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng nào.

Về hình phạt bổ sung: Hiện nay bị cáo Bùi Phước Q không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Phước Q.

Đối với đối tượng tên Lỳ và người lái xe thuê chở bị cáo Bùi Phước Q đi nhận ma túy không rõ nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử Lỳ.

[4] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 2,7739g mẫu bột được nghiền từ 06 viên nén màu nâu nhạt; 3,2065g mẫu tinh thể rắn màu trắng; các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong đã hoàn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 túi xách màu đen có quai mang trên nền xách có chữ Dior được bị cáo Bùi Phước Q sử dụng làm phương tiện phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu iPhone của bị cáo Bùi Phước Q dùng để liên lạc mua bán ma túy, đây là phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

[5] Về án phí: Bị cáo Bùi Phước Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Đối với đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Phước Q (Tên gọi khác: Xị) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Phước Q 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (Ngày 07/4/2023); không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Phước Q.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 2,7739g (Hai phẩy bảy bảy ba chín gam) mẫu bột được nghiền từ 06 (Sáu) viên nén màu nâu nhạt; 3,2065g (Ba phẩy hai không sáu năm gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng; các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong. Tất cả được niêm phong kín bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 chữ ký của Giám định viên Trần N 02 chữ ký của Điều tra viên Trần Văn V, 02 dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế và dòng chữ “Hoàn mẫu vật vụ Bùi Phước Q, bắt ngày 07/4/2023).

- Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) túi xách màu đen có quai mang trên nền xách có chữ Dior.

- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động hiệu iPhone số Imer: 355321080044747 của bị cáo Bùi Phước Q.

Các vật chứng nêu trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/6/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H , tỉnh Thừa Thiên Huế và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Bùi Phước Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Phước Q có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ