- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đỗ Văn H; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 218/2022/HS-PT. Ngày 14 - 12 - 2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- TH phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Gia Lương.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hải Vinh.
Ông Nguyễn Hà Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diệnViện kiểm sát nhân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Diễm Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 14/12/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 321/2022/TLPT-HS ngày 31 tháng 10 năm 2022, đối với bị cáo Đỗ Văn H, do có kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn H đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 57/2022/HS-ST ngày 22/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang;
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Đỗ Văn H, sinh năm 1995. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
HKTT: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh B;
Nơi ở hiện nay: Thôn M, xã C, huyện L, tỉnh B;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 9/12;
Con ông Đỗ Văn T, sinh năm 1970;
Con bà Lê Thị M, sinh năm 1970;
Vợ: Phạm Thị Y, sinh năm 1996 (đã ly hôn);
Con: Bị cáo có 01 con sinh năm 2015.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 11/5/2022, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Bắc Giang khởi tố về tội “Tàng trữ vũ khí quân dụng”.
- Ngày 22/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Giang đã khởi tố, về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Tiền án: Bản án số 55/2018/HSST ngày 01/11/2018, Tòa án nhân dân huyện Lục Nam xử phạt 02 năm tù cho hưởng án treo, về tội “Buôn bán hàng cấm”, thời gian thử thách 4 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/4/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang ( Có mặt tại phiên tòa).
Trong vụ án còn có 01 bị cáo khác và 07 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên cấp phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 12/4/2022, Nguyễn Văn Hiếu, Ngô Gia Huy, Đặng Đình Đạt, Đỗ Văn Hoan, Nguyễn Trọng Tập, Đỗ Văn H và Nguyễn Văn Hậu cùng nhau đi chơi hội làng và ăn cơm, uống rượu tại thôn An Phú, xã Khám Lạng, huyện Lục Nam. Trong quá trình ăn uống Hiếu và mọi người rủ nhau sau khi ăn uống xong thì lên nhà nghỉ H Tít của Đỗ Văn H ở thôn M, xã C, huyện L chơi và sử dụng ma túy, H đồng ý. Sau đó H đi về nhà nghỉ trước còn mọi người ở lại tiếp tục ăn uống, quá trình ăn uống, Hiếu nghe thấy có người bảo Hiếu “gọi đồ đi” (tức là gọi mua ma túy). Nghe thấy vậy, Hiếu dùng điện thoại di động iphone 11 Promax mầu xám, lắp sim 0582605555 gọi vào số thuê bao 0364094444 của H nói “Anh để cho em một phòng và lấy hộ em ít đồ cho mấy anh em lên chơi”, H trả lời “Ok”. Một lúc sau H gọi điện lại cho Hiếu bảo “Anh lấy cho mày năm triệu ke (tức ma túy Ketamine) và kẹo (tức ma túy MDMA), tổng cả nợ cũ là 8.500.000 đồng”, Hiếu đồng ý (H và Hiếu khai trước đó Hiếu vay H số tiền 3.500.000 đồng để chi tiêu sinh hoạt cá nhân). Theo H khai, sau khi thống nhất xong với Hiếu thì H sử dụng điện thoại di động iphone 11 Promax mầu xanh, lắp sim 0364094444 gọi cho một người bạn tên là Việt nhà ở Bắc Ninh (H khai chỉ biết tên Việt, còn cụ thể họ, tên, địa chỉ cụ thể thì H không biết) hỏi mua 5.000.000 đồng tiền ma túy ke và kẹo, Việt đồng ý. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Việt mang ma túy lên để ở sát rìa đường trước cửa nghỉ H Tít rồi gọi H ra lấy. H ra trả tiền rồi cầm 01 túi nilon đựng ma túy ke và 02 viên ma túy kẹo vào nhà nghỉ rồi để ở cạnh bậc cầu thang thứ nhất tầng 1. Sau đó, H gọi điện cho Hiếu nói “Anh lấy được rồi, bảo mọi người lên đi”. Lúc sau Hiếu cùng Tập, Đạt, Huy, Hoan thuê xe taxi lên nhà nghỉ H Tít, còn Hậu lên sau. Khi H đang cùng Lê Văn Chỉnh, sinh năm 2003 ở thôn Sơn Đình, xã Thanh Lâm, huyện Lục Nam và Nguyễn Đức Quang, sinh năm 2003 ở thôn Hồ, xã Thanh Lâm, huyện Lục Nam (đều là nhân viên trông coi nhà nghỉ) ở tầng 1 thì thấy Hiếu cùng mọi người đến, H bảo Chỉnh ra mở cửa rồi H đưa Hiếu cùng nhóm bạn lên phòng nghỉ tầng 4. Khi tất cả cùng vào phòng thì Hiếu gọi H ra H lang rồi Hiếu dùng số tài khoản “1996168666666” Ngân hàng MB Bank chuyển số tiền 8.500.000 đồng vào số tài khoản “1234226226226” Ngân hàng MB Bank của Đỗ Văn H. Sau khi đã sắp xếp xong, H đi xuống tầng 1 lấy 01 chiếc đĩa sứ, 01 chiếc thẻ ATM, đồng thời lấy tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn tH ống hút hai đầu gắn hai đầu lọc thuốc lá rồi đi ra cầu thang cầm số ma túy để lúc trước mang lên phòng mọi người đang ngồi và để ở đệm. H cầm đĩa sứ sang phòng thờ bên cạnh lấy bật lửa hơ đĩa cho nóng rồi mang vào phòng cho mọi người sử dụng ma túy rồi H đi xuống tầng 1. Tại phòng, Hiếu lấy 01 viên ma túy dạng kẹo ra chia tH 2 mảnh, Hiếu sử dụng ½ viên bằng hình thức cho vào miệng uống, Hiếu tiếp tục lấy một ít ma túy Ke ra để vào đĩa để sử dụng nhưng chưa sử dụng và nằm ngủ. Lúc này H đi từ tầng 1 lên thấy đĩa Ke ở đệm, H đã dùng tấm thẻ cào Ke tH 04 đường và bê đĩa Ke nói “Anh là chủ nhà, anh mời mỗi anh em một đường” thì Hoan và Tập mỗi người hít 02 đường ke. Sau đó H để đĩa Ke xuống đệm rồi đi xuống quầy lễ tân, còn Hiếu, Tập, Đạt, Huy, Hoan tiếp tục sử dụng ma túy. Sau khi xuống tầng 1 thấy Nguyễn Văn Hậu đến, H bảo Chỉnh ra mở cửa rồi Hậu tự đi lên tầng 4 vào phòng cùng sử dụng ma túy với mọi người. Khi các đối tượng đang sử dụng ma túy thì bị Công an huyện Lục Nam phối hợp phát hiện, bắt giữ.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 túi nilon mầu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền mầu đỏ, bên trong đựng chất tinh thể mầu trắng (nghi là ma túy tổng hợp) thu giữ tại nền nhà phía dưới đệm, được niêm phong, ký hiệu “QT1”; 02 túi nilon mầu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, đường viền mầu xanh, bên trong đều có bám dính chất tinh thể mầu trắng (nghi là ma túy tổng hợp) thu giữ tại trên nền nhà phía giáp tường của phòng nghỉ, được niêm phong, ký hiệu “QT2”; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuốn tH hình trụ tròn gắn với hai đầu lọc thuốc lá thu giữ tại nền nhà, được niêm phong, ký hiệu “QT3”; 01 đĩa sứ mầu trắng hình tròn, trên bề mặt có bám dính chất chất tinh thể mầu trắng (nghi là ma túy tổng hợp) thu giữ tại mặt giường phòng ngủ phía bên tay trái giáp cầu thang tầng 4, được niêm phong, ký hiệu “QT4”; 01 thẻ ATM TP Bank màu xám mang tên Trần Thanh Hưng thu giữ tại nền nhà; 01 bộ loa vi tính mầu đen nhãn hiệu T22OX; 01 đèn chớp mầu đen nhãn hiệu MP-786; 01 bình khí nén mầu xanh.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Nam tạm giữ của Nguyễn Văn Hiếu 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 Promax mầu xám số IMEI 1: 352851110290547; số IMEI 2: 352851110440526, được niêm phong, ký hiệu “ĐT1”; Đỗ Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone11 Promax mầu xanh số IMEI 1: 353920109148603; số IMEI 2: 353920109039992, được niêm phong, ký hiệu “ĐT2”.
Tiến H khám xét khẩn cấp nhà nghỉ “H tít”, thu giữ: 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền mầu đỏ, bên trong đựng chất tinh thể mầu trắng xanh (nghi là ma túy) và 01 gói giấy mầu trắng đựng 02 viên nén mầu xanh (nghi là ma túy) thu giữ tại chiếc giầy bên trái mầu đen trước cửa phòng ngủ tầng 1, được niêm phong, ký hiệu “KX1”; 01 dây chuyền bằng kim loại mầu vàng gắn với mặt kim loại mầu vàng; 03 nhẫn bằng kim loại mầu vàng; 01 nhẫn kim loại mầu vàng gắn với mặt dạng đá; 01 nhẫn kim loại mầu trắng gắn với mặt dạng đá mầu trắng; 02 mặt kim loại mầu vàng gắn với mặt đá mầu xanh, thu giữ trong két sắt phòng ngủ tầng 1 đều được niêm phong, ký hiệu “KX2”; 01 điện thoại Iphone 7 Plus mầu đen số IMEI: 359219072819173 thu giữ tại mặt giường trong phòng ngủ tầng 1, được niêm phong, ký hiệu “ĐT3”; 01vật dạng hình khẩu súng loại ổ quay mầu đen (nghi là vũ khí quân dụng) không kiểm tra chi tiết bên trong, thu giữ tại chiếc điều hòa gắn trên tường trong phòng ngủ tầng 1, được niêm phong trong hộp bìa cát tông, ký hiệu “KX3”; Tại mặt bàn phòng ngủ tầng 1 thu giữ số tiền 7.660.000 đồng; 01chứng minh thư nhân dân mang tên Vi Văn Tuấn; 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Phan Đức Cường; 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Lê Công Úy; Tại két sắt phòng ngủ tầng 1 số tiền 105.300.000 đồng; 01 chứng minh thư nhân dân và 01 giấy phép lái xe đều mang tên Thân Văn Quang; 01giấy đăng ký xe mô tô mô tô BKS 98F1-18652 mang tên Lê Công Úy; 02 giấy bán xe ô tô; 26 giấy vay tiền và giấy ký nhận lĩnh tiền.
Tại phòng ngủ tầng 2 giáp cầu thang 01 đăng ký xe mô tô BKS 98F1- 312.59 mang tên Hoàng Văn Dũng.
Tại quầy thanh toán thu giữ 01 đầu thu Camera mầu đen ký hiệu “DAI NGUYÊN”; 01 giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh mang tên Đỗ Văn H.
Vật chứng thu giữ nghi là ma túy, Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Nam đã trưng cầu gửi giám định. Tại kết luận giám định số 593/KL-KTHS ngày 18/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận:
Trong 01 phong bì thư ký hiệu “QT1” đã được niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ là ma túy, có khối lượng 4,885 gam, loại Ketamine.
Trong 01 phong bì thư ký hiệu “QT2” đã được niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng bám dính trong 02 túi nilon màu trắng, đều có rãnh khóa nhựa, viền mầu xanh đều là ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.
Trong 01 phong bì thư ký hiệu “QT3” đã được niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng bám dính trong 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (mười nghìn Việt Nam đồng) được cuộn lại tH hình trụ tròn, gắn với 02 vỏ đầu lọc thuốc lá là ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.
Trong 01 hộp bìa cát tông ký hiệu “QT4” đã được niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng bám dính trên bề mặt của 01 đĩa sứ hình tròn mầu trắng là ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.
Trong 01 phong bì thư ký hiệu “KX1” đã được niêm phong gửi giám định: Trong 01 túi nilon mầu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền mầu đỏ đựng: Chất tinh thể mầu trắng đỏ là ma túy, có khối lượng 3,162 gam, loại Ketamine; 02 viên nén mầu xanh đựng trong 01 gói giấy mầu trắng đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,859 gam, loại MDMA.
Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Nam đã tiến H thu giữ mẫu nước tiểu của Đỗ Văn Hoan, Nguyễn Trọng Tập, Ngô Gia Huy, Đỗ Văn H, Đặng Đình Đạt, Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Văn Hậu, ký hiệu lần lượt: “M1”; “M2”; “M3”; “M4”; “M5”; “M6”; “M7” được niêm phong gửi giám định. Tại kết luận giám định số 607/KL-KTHS ngày 19/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận: Trong các mẫu chất lỏng mầu vàng (nước tiểu), ký hiệu: “M1”, “M2”, “M3”, “M5”, “M6”, “M7”, được niêm phong gửi giám định đều tìm thấy Dehydrronorketamine và chất ma túy MDMA.
Trong mẫu chất lỏng mầu vàng (nước tiểu), được niêm phong, ký hiệu: “M4” gửi giám định không tìm thấy chất ma túy. (Dehydrronorketamine là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Ketamine trong cơ thể).
Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Nam đã trưng cầu giám định vật chứng thu giữ khi khám xét nghi là súng. Tại kết luận giám định số 599/KL-KTHS ngày 19/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận: Khẩu súng gửi giám định là súng tự tạo kiểu ổ quay, bắn cỡ đạn 5,6 mm, thuộc vũ khí quân dụng.
Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Nam đã trưng cầu giám định dấu vết đường vân trên mẫu vật thu giữ khi bắt quả tang. Tại kết luận giám định số 653/KL-KTHS ngày 25/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:
1. Trên đĩa sứ gửi giám định phát hiện 02 dấu vết đường vân, đủ yếu tố giám định, ký hiệu số 1 và số 2.
2. Dấu vết đường vân ký hiệu số 1 với dấu vân tay in ở ô ngón “Cái phải” trên danh, chỉ bản ghi tên Nguyễn Văn Hiếu, sinh năm 1996, trú tại An Phú, xã Khám Lạng, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang là của cùng một người in ra.
3. Dấu vết đường vân ký hiệu số 2 với dấu vân tay in ở ô ngón “Cái trái” trên danh, chỉ bản ghi tên Nguyễn Trọng Tập sinh năm 1995, nơi cư trú: số nhà 33, Xóm 7, phường Phong Khê, tH phố Bắc Ninh là của cùng một người in ra.
4. Trên các mẫu vật còn lại không phát hiện thấy dấu vết đường vân.
Cơ quan điều tra đã tiến H kiểm tra điện thoại di động iphone 11 Promax mầu xanh, lắp sim 0364094444 của H; kiểm tra điện thoại di động iphone 11 Promax mầu xám, lắp sim 0582605555 của Hiếu, kết quả từ 14 giờ 44 phút đến 15 giờ 49 ngày 12/4/2022 có nhiều cuộc gọi với nhau giữa H và Hiếu; Kiểm tra giao dịch của Ngân hàng MB Bank trên điện thoại của H, Hiếu thể hiện H sử dụng số tài khoản 1234226226226”, Hiếu sử dụng số tài khoản “1996168666666”, vào lúc 15 giờ 55 phút ngày 12/4/2022, H nhận được số tiền từ tài khoản của Hiếu chuyển số tiền 8.500.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã tiến H cho Đỗ Văn Hoan, Nguyễn Trọng Tập, Ngô Gia Huy nhận dạng ảnh, kết quả Hoan, Tập, Huy đều nhận ra Đỗ Văn H là người mang dụng cụ sử dụng ma túy, mang ma túy lên phòng và là người đã xào ke mời mọi người sử dụng; Cơ quan điều tra đã tiến H xác định hiện trường và thực nghiệm điều tra cho Đỗ Văn H, Nguyễn Văn Hiếu chỉ lại vị trí lấy ma túy, để ma túy bậc thang, lấy dụng cụ sử dụng ma túy, lấy ma túy ra đĩa, kết quả H, Hiếu thực hiện thuần thụ.
Vật chứng gồm: Các phong bì thư ký hiệu “QT1”, QT2”, “QT3”, “KX1”, hộp bìa cát tông niêm phong ký hiệu “QT4” là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang; 01 thẻ ATM TP Bank mang tên Trần Thanh Hưng màu xám các đối tượng dùng để sử dụng ma túy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 Promax mầu xám thu giữ của Hiếu và 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone11 Promax mầu xanh thu giữ của H (có đặc điểm nêu trên) đều dùng liên lạc trong việc mua bán trái phép chất ma túy; 01 bộ loa vi tính mầu đen nhãn hiệu T22OX; 01 đèn chớp mầu đen nhãn hiệu MP-786; 01 bình khí nén mầu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 7 Plus mầu đen; Số tiền 7.660.000 đồng; 01 đầu thu Camera mầu đen (có đặc điểm nêu trên) và 01 giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mang tên Đỗ Văn H, không liên quan đến H vi phạm tội, Cơ quan điều tra chuyển xử lý cùng vụ án.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận H vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu là đúng. Các bị cáo thấy việc làm của các bị cáo là sai và rất ân hận.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Đỗ Văn Tiến, chị Trương Thị Nguyện tại phiên tòa xác định tài sản liên quan đến anh Tiến, chị Nguyện trong vụ án, anh chị đã nhận lại và không có ý kiến gì thắc mắc.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn Hậu tại phiên tòa xác nhận H vi phạm tội của các bị cáo như cáo trạng truy tố là đúng, anh Hậu bị xử phạt H chính anh Hậu không có ý kiến gì thắc mắc.
Cáo trạng số 54/CT-VKS ngày 05/09/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã truy tố Đỗ Văn H về các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự; “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Nguyễn Văn Hiếu về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 57/2022/HS-ST ngày 22/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
Căn cứ điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt: Đỗ Văn H 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Phạt bổ sung bằng tiền 5.000.000 đồng
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt: Đỗ Văn H 03 (Ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Phạt bổ sung bằng tiền 5.000.000 đồng.
Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt: Đỗ Văn H 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Phạt bổ sung bằng tiền 50.000.000 đồng.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt của các tội buộc bị cáo Đỗ Văn H phải chấp H hình phạt chung là 12 (Mười hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/04/2022. Phạt bổ sung bằng tiền tổng số tiền 60.000.000 đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên xử phạt đối với bị cáo khác, về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23/9/2022, bị cáo Đỗ Văn H kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Đỗ Văn H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo nhưng không xuất trình được thêm tài liệu chứng cứ xin giảm nhẹ gì khác.\
Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực H quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của H vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị cáo nêu ra đã kết luận và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đỗ Văn H, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Án phí: Bị cáo Đỗ Văn H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Đỗ Văn H tranh luận: Bị cáo không phải là vai trò chính trong vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Đối đáp của đại diện VKS: Bị cáo cho rằng không cung cấp ma túy cho bị cáo Nguyễn Văn Hiếu và những người khác sử dụng, do đó bị cáo có vai trò thấp hơn bị cáo Hiếu. Viện kiểm sát có quan điểm như sau: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như quá trình xét hỏi tại phiên tòa có căn cứ cho rằng bị cáo H là người bán ma túy, và cung cấp các dụng cụ để các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy, bị cáo là người giữ vai trò chính trong vụ án.
Kết thúc tranh luận các bên giữ nguyên quan điểm của mình.
Bị cáo Đỗ Văn H nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn H đã được làm trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. HĐXX chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
Xét H vi phạm tội của bị cáo Đỗ Văn H thì thấy: Khoảng hơn 15 giờ ngày 12/4/2022, tại phòng nghỉ tầng 4 (phòng giáp cầu thang phía bên phải) nhà nghỉ H Tít ở thôn Mẫu Sơn, xã Chu Điện, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, Đỗ Văn H là chủ nhà nghỉ có H vi bán 01 túi ma túy Ke (tức ma túy Ketamine) và 02 viên ma túy Kẹo (tức ma túy MDMA) với số tiền 5.000.000 đồng cho Nguyễn Văn Hiếu. Tiếp đó H đã cung cấp địa điểm, chuẩn bị đĩa sứ, ống hút, thẻ nhựa ATM cho Hiếu cùng Ngô Gia Huy, Đặng Đình Đạt, Đỗ Văn Hoan, Nguyễn Trọng Tập và Nguyễn Văn Hậu sử dụng ma túy. Ngoài ra, Đỗ Văn H còn có H vi tàng trữ 3,162 gam ma túy loại Ketamine và 0,859 gam ma túy loại MDMA, mục đích để sử dụng.
Như vậy H vi của bị cáo Đỗ Văn H đã đủ yếu tố cấu tH các tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Từ những nội dung trên án sơ thẩm xét xử bị cáo Đỗ Văn H về các tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn H thấy: Tại phiên tòa, bị cáo chỉ có kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt nên các vấn đề khác của án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, HĐXX phúc thẩm không đặt ra giải quyết.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Án sơ thẩm xác định bị cáo Đỗ Văn H có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, là có căn cứ.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Án sơ thẩm xác định trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Đỗ Văn H có thái độ khai báo tH khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo có bà Nội được Nhà nước tặng huân chương kháng chiến hạng ba, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; là có căn cứ.
H vi của bị cáo Đỗ Văn H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý chất biệt dược gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội. Từ tệ nạn ma túy làm nảy sinh nhiều loại tội phạm khác, gây nhức nhối cho toàn xã hội. Do đó, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự và có hình phạt tù tương xứng đối với bị cáo. Án sơ thẩm xử phạt bị cáo Đỗ Văn H tổng hợp cả 3 tội là 12 (Mười hai) năm 06 (Sáu) tháng tù là tương xứng với H vi phạm tội đối với bị cáo.
Trong quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo Đỗ Văn H không xuất trình thêm được tài liệu chứng cứ mới để xem xét đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, do vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn H không được chấp nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
1. Không chấp nhận đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đỗ Văn H; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H 03 (Ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt của các tội buộc bị cáo Đỗ Văn H phải chấp H hình phạt chung là 12 (Mười hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/04/2022.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đỗ Văn H phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Giang; - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Cục THADS tỉnh Bắc Giang; - CA-VKS-TA-CCTHADS sơ thẩm; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, HCTP; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Gia Lương |