- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Kiều T - Trần Văn C"
- Tòa quyết gì? Thị Kiều T và anh Trần Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 218/2022/HNGĐ-ST Ngày 30/12/2022 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Phạm Lan Chi
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Duyên
2. Ông Đinh Chí Hiển
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án của Toà án nhân
dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
Ngày 30 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét
xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 387/2022/TLST – HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 256/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Kiều T; Sinh năm: 1990 (có đơn xin xét xử vắng
mặt)
Địa chỉ: Xã T, huyện B, tỉnh Cà Mau;
2. Bị đơn: Anh Trần Văn C; Sinh năm: 1982 (vắng mặt);
Địa chỉ: Xã T, huyện B, tỉnh Cà Mau;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Võ Thị Kiều T trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Trần Văn C tự nguyện chung sống với nhau và có
đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 05/9/2019. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh C.
Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Thị Kiều Như, sinh ngày 04/5/2014
và Trần Hạo Nhân, sinh ngày 10/6/2019. Khi ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh C cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Do điều kiện đi làm xa nên chị T yêu cầu xét xử vắng mặt chị cho đến khi kết
thúc vụ án.
Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng của vụ án và triệu tập hợp lệ để xét xử
sơ thẩm đến lần thứ hai đối với anh Trần Văn C nhưng anh C không có ý kiến và vắng mặt tại phiên tòa không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Võ Thị Kiều T
khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Trần Văn C. Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; Anh C có nơi cư trú tại xã T, huyện B, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của chị T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Chị Võ Thị Kiều T và anh Trần Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để xét
xử sơ thẩm đến lần thứ 2 nhưng chị T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh C vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Võ Thị Kiều T và anh Trần Văn C.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị Võ Thị Kiều T và anh Trần Văn C tự nguyện chung
sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 05/9/2019. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, hai bên cha mẹ có hàn gắn nhiều lần cho vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả. Xét thấy, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án có mở phiên hòa giải để anh chị có cơ hội gặp nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh Trần Văn C vẫn vắng mặt là không có thiện chí hòa giải, đoàn tụ. Điều đó, cho thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị Võ Thị Kiều T được ly hôn với anh Trần Văn C.
Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Thị Kiều Như, sinh ngày
04/5/2014 và Trần Hạo Nhân, sinh ngày 10/6/2019 đang sống với chị T. Khi ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu Như và cháu Nhân đang sống ổn định với chị T, anh C cũng không có ý kiến về yêu cầu nuôi con chung của chị T nên cần giao cháu Như và cháu Nhân cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp, do chị T không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Anh C không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con
chung phù hợp với quy định pháp luật, không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: Chị Võ Thị Kiều T xác định vợ chồng không có nợ. Do
đó, Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Võ Thị Kiều T phải chịu theo
quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do chị Võ Thị Kiều T đã dự nộp tạm ứng án phí nên được đối trừ không phải nộp tiếp.
Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị
theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt chị Võ
Thị Kiều T và anh Trần Văn C.
Áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và
gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Kiều T về việc ly hôn với anh
Trần Văn C.
Về hôn nhân: Chị Võ Thị Kiều T được ly hôn với anh Trần Văn C.
Về con chung: Giao các cháu Trần Thị Kiều Như, sinh ngày 04/5/2014 và Trần
Hạo Nhân, sinh ngày 10/6/2019 cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh C không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con
chung phù hợp với quy định pháp luật, không ai được cản trở.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị T phải chịu 300.000 đồng.
Ngày 14/10/2022 chị T đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003048 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được chuyển thu án phí.
3. Chị Võ Thị Kiều T và anh Trần Văn C có quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Tòa án tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Thới Bình; - Chi cục THADS huyện Thới Bình; - UBND xã T - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Huỳnh Phạm Lan Chi |