vanban.org

Bản án 218/2019/HSST — Hình sự

TAND TX. Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 27/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn M phạm tội “Cướp tài sản”

Xử phạt: Nguyễn Văn P 54 (Năm mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/7/2019. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày 27/11/2019 để đảm bảo thi hành án. Xử phạt: Nguyễn Văn M 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyễn văn Phúc, Nguyễn văn Minh - Bị truy tố tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn M phạm tội “Cướp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 168 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TỪ SƠN
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 218/2019/HSST
Ngày 27 tháng 11 năm 2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH

Với T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến H.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Mạnh H, ông Đỗ Đức H.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến P – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Từ Sơn tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Tá T - Chức vụ: Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 27 tháng 11 năm 2019, tại Nhà văn hóa khu phố Hoàng Quốc Việt, phường Đông Ngàn, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh mở phiên toà sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 211/2019/HSST ngày 08 tháng 11 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 210/QĐXX- ST ngày 14/11/2019 đối với các bị cáo:

1/ Nguyễn Văn P - Sinh năm 1988.

HKTT: Cụm 4, BS, phường VC, T phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Trình độ học vấn: 9/12; Nghề N: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Bố đẻ: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1963; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị X, sinh năm 1965; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; có vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1992; có 01 con sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

+Tại bản án số 59/ HSST ngày 09/5/2012 Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 18 tháng tù tội “Cưỡng đoạt tài sản” ra trại ngày 17/4/2013.

+Tại bản án số 01/ HSST ngày 26/8/2014 Tòa án nhân dân T phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 09 tháng tù tội “Trộm cắp tài sản” ra trại ngày 14/4/2015.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (có mặt).

2/ Nguyễn Văn M - Sinh năm 1994.

HKTT: Thôn TT, xã HQ, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.

Trình độ học vấn: 9/12; Nghề N: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Bố đẻ: Nguyễn Văn B, sinh năm 1963; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1961; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 02; có vợ là Đặng Thị L, sinh năm 1994; có 02 con lớn sinh năm 2016 nhỏ sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (có mặt).

Người bị hại: Anh Đàm Văn T, sinh năm 1996.

Trú tại: Thôn ĐX, xã QT, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh truy tố về hành vi như sau:

Nguyễn Văn P và Nguyễn Văn M là bạn bè cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 21 giờ ngày 07/6/2019, P điều khiển xe mô tô Honda Wave màu xanh, đen, bạc, BKS 99E1- 360.61 chở M đi từ địa bàn T phố Bắc Ninh đến địa bàn thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh để mua ma túy về sử dụng. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày 07/6/2019, sau khi mua được 01 gói ma túy ở một ngôi nhà thuộc phường ĐN, thị xã Từ Sơn, M và P đi vào khu vực nghĩa trang thuộc khu phố VK, phường ĐN, thị xã Từ Sơn để cùng nhau sử dụng. Tại đây, M và P gặp hai nam thanh niên không quen biết đang ngồi ở trong nghĩa trang. Sau này M, P biết hai người này là anh Đàm Văn T sinh năm 1996, HKTT: thôn ĐX, xã QT, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn và anh Nguyễn Cơ N, sinh năm 1992, HKTT: BP, xã TH, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng. P hỏi: “Chúng mày vào đây làm gì?”, anh T và anh N đáp “Bọn em vào đây đi vệ sinh”. M và P biết là anh T và anh N vào nghĩa trang mục đích để sử dụng ma túy nên nảy sinh ý định đóng giả làm công an để đe dọa T và N nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. P tiến lại gần Tvà N rồi dùng tay tát vào mặt N một cái rồi nói: “Chúng mày nhận thì tao tha cho chứ cãi là tao bắt về phường đấy”. Do sợ hãi nên T và N thừa nhận việc vừa sử dụng ma túy và xin M và P tha cho mình. M và P yêu cầu T và N phải nộp tiền cho P, M thì tha cho nhưng T và N không có tiền. Sau đó, M dùng chân đá vào đầu T, N mỗi người 01 cái. Tiếp đến, P và M yêu cầu T, N phải để lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, số khung 3901HY737307, số máy JA 39E717465, BKS 12H1- 323.76 và nói: “ngày mai mỗi người mang 5 triệu đến Công an phường ĐN gặp anh T giải quyết” (Quá trình điều tra xác M: không có ai tên T là công an phường ĐN). Do sợ hãi tiếp tục bị đánh, bị bắt nên T và N phải chấp nhận để lại chiếc xe mô tô trên cho P và M. Sau khi lấy được chiếc xe, P điều khiển xe mô tô mà cả hai vừa cướp được đi về nhà ở Võ Cường, Bắc Ninh còn M điều khiển xe mô tô của mình đi đến nhà nghỉ thuộc chân cầu Bò Sơn, T phố Bắc Ninh để nghỉ ngơi. Sáng ngày 08/6/2019, P và M đến nhà chị Nguyễn Thị Thanh Hương sinh năm 1971, trú tại: số 71, Lê Phụng Hiểu, Niềm Xá, Kinh Bắc, T phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh vay chị Hương 4.000.000 đồng và để chiếc xe M và P cướp được của T và N để làm tin (khi vay P nói chiếc xe mô tô trên là của P). Sau khi lấy được tiền, P và M chia nhau mỗi người 2.000.000 đồng. Ngày 13/6/2019, anh Đàm Văn T đến Cơ quan điều tra Công an thị xã Từ Sơn trình báo về vụ việc trên.

Đến ngày 14/6/2019, M và P biết hành vi phạm tội ngày 07/6/2019 bị phát hiện nên M và P mỗi người góp 2.000.000 đồng trả tiền chị Hương và lấy lại chiếc xe mô tô trên. Sau đó, M mang xe mô tô trên và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, đen, bạc, BKS 99E1- 360.61 đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Từ Sơn để đầu thú, còn P đi đâu M không biết.

Trên cơ sở yêu cầu định giá của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Từ Sơn, ngày 10/7/2019, hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thị xã Từ Sơn ra bản kết luận số 63 kết luận: “01 xe mô tô nhãn hiệu HondaWave màu xanh, sản xuất năm 2018 (đã qua sử dụng) có giá trị 19.000.000 đồng”.

Ngày 18/7/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Từ Sơn đã khởi tố bị can và bắt tạm giam đối với P.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, số khung 3901HY737307, số máy JA 39E717465, BKS 12H1- 323.76: Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là của anh Đàm Văn S sinh năm 1966, HKTT: thôn ĐX, xã QT, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn (là bố của anh Đàm Văn T) mua và lấy tên chủ sở hữu là anh Đàm Văn T. Ngày 08/10/2019, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh Sinh. Về trách nhiệm dân sự đến nay anh không yêu cầu gì.

Đối với hành vi P dùng tay tát vào mặt anh N, M dùng chân đá vào đầu anh T, anh N: Quá trình điều tra xác định anh N, anh T bị thương tích không đáng kể, anh N, anh T không đề nghị giám định thương tích. Về trách nhiệm dân sự, đến nay anh T, anh N không có yêu cầu gì.

Quá trình điều tra các bị cáo Nguyễn Văn P và Nguyễn Văn M đã T khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Bản cáo trạng số 195/CTr - VKS ngày 08/11/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Văn P và Nguyễn Văn M về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1, Điều 168 BLHS.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi tát và đá anh T để lấy xe mô tô là vi phạm pháp luật. Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng, không oan.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã đưa ra chứng cứ, lý lẽ và sau khi phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết liên quan đến trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Cướp tài sản”. Áp dụng khoản 1, Điều 168 BLHS; Điều 38; điểm b, s, khoản 1, Điều 51, BLHS, bị cáo M áp dụng thêm khoản 2, Điều 51, BLHS (ra đầu thú). Xử phạt bị cáo P từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Bị cáo M từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, thời hạn tù của bị cáo P tính tù ngày 18/7/2019. Bị cáo M từ ngày 14/6/2019 Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe Wave màu xanh đen bạc, BKS99E1- 360.61của bị cáo Nguyễn Văn M dùng để phạm tội.

Trong phần tranh luận các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét đối với chiếc xe BKS99E1- 360.61 của bị cáo dùng để đi mua ma túy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm. Các bị có không có ý kiến gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện Kiểm sát, khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo, lời khai của người bị hại, kết luận định giá tài sản.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là thống nhất với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận định giá. Đã đủ căn cứ khẳng định, tối ngày 07/6/2019, các bị cáo Nguyễn Văn P và Nguyễn Văn M đã có hành vi đánh anh T và đe dọa làm anh T hoảng sợ, để lấy xe mô tô của anh, hành vi của các bị cáo đã cấu T tội cướp tài sản. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 168 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Từ Sơn truy tố các bị cáo tội danh trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án và nhân thân của các bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tài sản của công dân mà còn làm mất trật tự trị an xã hội. Đối với bị cáo P có nhân thân xấu, đã bị đưa ra xét xử 02 lần. Do vậy đối với các bị cáo cần phải có một mức hình phạt tương xứng cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới đảm bảo đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở T công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo T khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội, các bị cáo đã đi chuộc lại xe để nộp cho cơ quan điều tra để trả lại cho bị hại, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, khoản 1, Điều 51BLHS. Bị cáo M ra đầu thú vì vậy được áp dụng khoản 2 Điều 51BLHS do vậy cần áp dụng cho các bị cáo.

+ Về tình tiết tăng nặng: Xét thấy các bị can không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về vật chứng của vụ án: Chiếc xe mô tô đã trả lại cho chủ sở hữu, khi nhận lại không có yêu cầu gì đối với các bị cáo nên không xem xét giải quyết ở vụ án này.

Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave màu xanh, đen, bạc, BKS99E1- 360.61: Quá trình điều tra xác định bị cáo M là chủ sở hữu. Xét thấy bị cáo M dùng để phạm tội vì vậy cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Liên quan trong vụ án còn có:

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của P, M, T và N: cơ quan Công an thị xã Từ Sơn đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo là đúng quy định pháp luật.

Đối với người đã bán ma túy cho P, M, T và N: Quá trình điều tra xác định, P, M, T, N không biết người bán ma túy cho bản thân là ai, không nhớ vị trí ngôi nhà nên cơ quan điều tra tiếp tục xác M, khi nào làm rõ đề nghị xử lý sau.

Đối với chị Nguyễn Thị Thanh Hương là người đã cho P, M vay tiền và P, M đã để lại chiếc xe mô tô P, M vừa cướp được của anh T: Quá trình điều tra xác định, do chị Hương tin tưởng P, không biết nguồn gốc chiếc xe mô tô là do P, M cướp mà có được nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị Hương là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P, Nguyễn Văn M phạm tội “Cướp tài sản”

Áp dụng khoản 1, Điều 168; Điều 38; điểm b, s, khoản 1, Điều 51; Điều 329 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Xử phạt: Nguyễn Văn P 54 (Năm mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/7/2019. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày 27/11/2019 để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng khoản 1, Điều 168; Điều 38; điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 329 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Xử phạt: Nguyễn Văn M 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/6/2019. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày 27/11/2019 để đảm bảo thi hành án.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô Honda Wave màu xanh, đen, bạc, BKS99E1- 360.61. Theo biên bản bàn giao giữa Công an thị xã Từ Sơn với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh ngày 27/11/2019.

- Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ