vanban.org

Bản án 218/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 08/08/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/08/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Đ - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 218/2017/HSPT
Ngày: 08-8-2017

NHÂN DANH

N ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH N D N TỈNH ĐỒNG THÁP

Với thành phần Hội đ ng xét x phúc thẩm g m có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tô Phú Đông

Các Thẩm phán: Ông Ngô Tấn Lợi

Bà Nguyễn Thị Mai

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Thanh Trúc - Cán bộ Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Kim Hóa - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2017, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 201/2017/HSPT ngày 17 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo Trần Thị Đ.

Do có kháng cáo của bị cáo Trần Thị Đ đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2017/HSST ngày 09 tháng 6 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện H.

* Bị cáo có kháng cáo:

TRẦN THỊ Đ

Sinh năm 1977;

HKTT: Ấp 2, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp;

Nghề nghiệp: Làm thuê;

Trình độ học vấn: Không biết chữ;

Con ông Trần Văn Ph, sinh năm 1932 (đã chết);

Con bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1932;

Chồng tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1978;

Có 03 người con; lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 2006;

Tiền án, tiền sự: không;

Áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú;

Hiện bị cáo đang tại ngoại.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Thị Đ: Ông Nguyễn Tấn T là Luật sư của Chi nhánh Công ty Luật TNHH L - Công tác viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước.

Ngoài ra trong vụ án còn có người bị hại không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NH N TH :

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H và bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện H thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ, ngày 23/12/2016 bà Đặng Thị G bế cháu Nguyễn Mỹ T1, sinh năm 2014 đến nhà ông Trần Văn S cư trú ấp 2, xã T nói chuyện, khi đi ngang qua nhà của Trần Thị Đ thì nghe bị chửi thô tục, bà không trả lời mà tiếp tục đi. Ông Trần Văn S lo có chuyện kêu về, bà G nghe lời nên về, khi đi ngang nhà Trần Thị Đ thì vẫn nghe bị chửi tiếp và chửi lại, Trần Thị Đ từ nhà chạy ra cự cải. Bà G bỏ cháu Mỹ T1 qua một bên xong vào dùng tay nắm tóc Trần Thị Đ, Đ cũng nắm tóc lại và tay phải nắm tóc tay trái cào vào vùng mặt của bà G, bà G dùng hai tay nắm tóc Trần Thị Đ ấn đầu kéo xuống, làm mặt của Trần Thị Đ hướng xuống mặt đất, Trần Thị Đ đưa hai tay lên cào liên tiếp trúng vào vùng mặt, cổ của bà G được anh Nh1, ông Th, bà T2, chị H1, chị L can ngăn. Bà G được đưa đến trạm y tế xã T điều trị, sau đó tiếp tục điều trị và làm đơn yêu cầu xử lý hình sự.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 431/TgT-TTPY, ngày 29/12/2016 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Tháp kết luận: Đặng Thị G: Đa sẹo phần mềm vùng trán phải, má phải, má trái, ảnh hưởng thẩm mỹ, tỷ lệ thương tật: 11%. Sẹo phần mềm vùng cổ phải lành tốt, tỷ lệ thương tật: 01%. Tổng tỷ lệ thương tật: 12%.

Trong quá trình điều tra bà G khai có chị Trần Thị H1, chị Trần Thị L cùng Trần Thị Đ gây thương tích, đã cho đối chất chị H1, chị L không thừa

- 2 -

nhận và không có chứng cứ nào khác thể hiện chị H1, chị L cùng tham gia gây thương tích.

Về trách nhiệm dân sự: Bà G yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản: Tiền thuốc 5.743.000 đồng, tiền mặt thu nhập 6.000.000 đồng, tiền ăn uống 4.000.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 10.000.000 đồng. Tổng cộng 25.743.000 đồng. Bị cáo thống nhất bồi thường và đã nộp 36.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H để khắc phục hậu quả.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 10/2017/HSST ngày 09/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện H

Tuyên bố bị cáo Trần Thị Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Áp dụng khoản 1 Điều 104; điểm b, h, p khoản 1, 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Thị Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 19 tháng 6 năm 2017, bị cáo Trần Thị Đ có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa,

XÉT TH :

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Thị Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:

Vào khoảng 16 giờ, ngày 23/12/2016 bà Đặng Thị G bế cháu là Nguyễn Mỹ T1 đi ngang nhà của Trần Thị Đ thì nghe bị chửi thô tục nên bà G chửi lại, bà Trần Thị Đ từ nhà chạy ra cự cãi. Bà G dùng tay nắm tóc Trần Thị Đ, Đ dùng tay phải nắm tóc, tay trái cào vào vùng mặt của bà G, bà G dùng hai tay nắm tóc Trần Thị Đ ấn đầu xuống làm cho mặt của Trần Thị Đ hướng xuống mặt đất. Trần Thị Đ đưa hai tay lên cào liên tiếp trúng vào vùng mặt, cổ của bà

- 3 -

G gây thương tích. Tổng tỷ lệ thương tật tại thời điểm giám định là 12%. Ngày 28/12/2016, bà Đặng Thị G có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo Đ.

Hành vi của bị cáo Trần Thị Đ bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự, là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành, bị cáo cũng nhận biết được tính mạng, sức khỏe con người được pháp luật bảo vệ. Nhưng bị cáo dùng hai tay cào liên tiếp trúng vào vùng mặt, cổ của bà G gây thương tích. Mặc dù giữa bị cáo và bà Đặng Thị G không có mâu thuẫn gì trước đó.

Tại phiên tòa bị cáo xin được hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe ảnh hưởng đến thẩm mỹ trên khuôn mặt của bà G, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo 06 tháng tù là đúng tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không xuất trình được tình tiết gì mới ngoài những tình tiết mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét và áp dụng. Do đó, không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Trần Thị Đ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát Tỉnh phát biểu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Trần Thị Đ. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh là có cơ sở nên chấp nhận.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Thị Đ thống nhất với tội danh đối với bị cáo nhưng đề nghị HĐXX xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như bị cáo là thành phần lao động, nhận thức pháp luật hạn chế, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đã chủ động nộp tiền khắc phục hậu quả cho người bị hại để xem xét cho bị cáo được hưởng án treo. Xét lời bào chữa của vị Luật sư là không có căn cứ chấp nhận như phần nhận định nêu trên.

Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nhưng do bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự phúc thẩm.

Bởi các lẽ trên,

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự,

- 4 -

QU ẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Trần Thị Đ. Giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Trần Thị Đ.

Tuyên bố bị cáo Trần Thị Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 104; điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Đ 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

Về án phí: Bị cáo Trần Thị Đ được miễn án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PH C THẨM

Cỡ chữ