vanban.org

Bản án 218/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 30/08/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/08/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Văn Thị H, sửa bản án sơ thẩm.

Xử phạt: Văn Thị H 04 (Bốn) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí HSPT. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Văn Thị H - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Văn Thị H, sửa bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 218/2017/HSPT
Ngày: 30/8/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Sơn.

Các thẩm phán:

Bà Lê Hồng Hương

Ông Nguyễn Thành Lượng

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tài.

Đại diện VKSND T.ĐN: Bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 30 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 147/2017/HSPT ngày 26/6/2017 do có kháng cáo của bị cáo Văn Thị H đối với bản án hình sự sơ thẩm số 50/2017/HSST ngày 19/5/2017 của TAND huyện P.

- Bị cáo có kháng cáo:

Văn Thị H, sinh năm: 1995; tại: Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp N1, xã O1, huyện P, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân Tộc: Châu Ro; Con ông Văn Đ, sinh năm 1968 và bà Phạm Thị P, sinh năm 1970; chồng, con: Chưa có; tiền án; tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

(Ngoài ra, trong vụ án còn có đại diện hợp pháp người bị hại anh Nguyễn Quốc T (sinh năm 1995, địa chỉ: Ấp N2, xã O2, huyện P, tỉnh Đồng Nai) không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập)

NHẬN THẤY

Theo án hình sự sơ thẩm: Vào khoảng 14 giờ 20 phút, ngày 16/09/2016, bị cáo Văn Thị H (có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe mô tô biển số 60B5-439.23 lưu thông từ đường Lê Duẩn (nội ô thị trấn X), thuộc khu phố 5, thị trấn X, huyện P, tỉnh Đồng Nai, đi ra đường Quốc lộ 1A. Khi đến điểm giao nhau giữa đường Lê Duẩn và đường quốc lộ 1A, bị cáo điều khiển xe mô tô rẽ trái và lưu thông trên phần đường bên trái theo hướng từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Bình Thuận. Khi đến Km 1794 + 700, Quốc lộ 1A, thuộc khu 8, thị trấn X, bị cáo điều khiển xe mô tô chuyển hướng sang bên phải để đi vào khu Công nghiệp P nhưng do không quan sát xe lưu thông trên đường dẫn đến va chạm với xe mô tô biển số 60B5- 556.64 do ông Nguyễn Minh H điều khiển chạy ngược chiều đến, gây tai nạn giao thông làm ông Nguyễn Minh H bị thương nặng và tử vong tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai. Bị cáo bị thương tích nhẹ.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường tai nạn giao thông vào lúc 08

giờ 30 phút ngày 17/10/2016 (hiện trường được dựng lại) thể hiện:

Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn giao thông tại Km 1794 + 700 m, quốc lộ 1A, thuộc khu 8, thị trấn X, huyện P, tỉnh Đồng Nai, là đoạn đường cong, rải nhựa nhẵn, chiều rộng mặt đường 12m00, giữa đường có 2 vạch sơn song song là vạch liền màu vàng và vạch dứt khúc màu vàng (tim đường) phân 02 luồng xe chạy ngược chiều nhau, mỗi bên có 02 làn đường, một làn đường dành cho xe có động cơ (rộng 3,20m) và một làn đường dành cho xe không có động cơ (rộng 2.60m), giữa 02 làn đường có vạch liền màu trắng. Quá trình khám nghiệm hiện trường chọn hướng lưu thông Bình Thuận đi TP. Hồ Chí Minh và vạch tim đường làm chuẩn và được mô tả như sau:

Sau tai nạn xe mô tô biển số 60B5- 439.23 nằm giữa tim đường, xe xoay ngang, ngã qua phải, đầu xe hướng vào lề đường bên phải, đuôi xe hướng vào lề đường bên trái, trục bánh trước nằm bên phần đường bên phải, cách vạch sơn liền màu vàng 80cm, trục bánh sau nằm trên phần đường bên trái, cách vạch sơn liền màu vàng 50cm.

Sau tai nạn xe mô tô biển số 60B5- 556.64 nằm trên phần đường dành cho xe có động cơ bên phải, xe ngã qua phải, đầu xe hướng về Bình Thuận, đuôi xe hướng về TP. Hồ Chí Minh, trục bánh trước cách vạch sơn liền màu vàng 30cm và cách trục bánh trước xe mô tô biển số 60B5-439.23 hướng về TP. Hồ Chí Minh 60cm, trục bánh sau cách vạch sơn liền màu vàng 60cm.

Trên phần đường dành cho xe có động cơ bên phải có dấu vết máu phạm vi 50cm x 10cm, tâm vết máu cách vạch sơn liền màu vàng 1m20 và cách trục bánh sau xe mô tô biển số 60B5- 556.64 hướng về TP. Hồ Chí Minh 60cm.

Trong lề đất bên phải đường, cách trục bánh sau xe mô tô biển số 60B5- 556.64 hướng về TP. Hồ Chí Minh 8m90 là cột mốc Km 1794+700m được chọn làm mốc hiện trường và cách mép đường Lê Duẩn hướng về TP. Hồ Chí Minh 48m50.

Điểm đụng:

Điểm đụng của xe mô tô biển số 60B5- 439.23 với xe mô tô biển số 60B5- 556.64 được xác định trên làn đường dành cho xe có động cơ bên phải theo hướng lưu thông Bình Thuận đi TP. Hồ Chí Minh (hướng đi của xe mô tô biển số 60B5- 556.64), trục bánh trước cách vạch sơn liền màu vàng 30cm, trục bánh sau cách vạch sơn liền màu vàng 60cm (thuộc phần đường của xe mô tô biển số 60B5- 556.64 do ông H điều khiển). Hành vi điều khiển xe của bị cáo vi phạm khoản 1, Điều 9 và khoảng 2, Điều 15 Luật giao thông đường bộ, gây ra hậu quả làm cho một người chết.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 498/PC54-KLGĐPY ngày 04/10/2016 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai, kết luận: Nguyên nhân tử vong của ông Nguyễn Minh H là do: Chấn thương sọ não nặng, nứt xương chẩm, xuất huyết não.

Về vật chứng vụ án:

- Xe mô tô biển số 60B5- 439.23 và xe mô tô biển số 60B5- 556.64.

- 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số 751142016601 mang tên Văn Thị H.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 50/2017/HSST ngày 19/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện P đã áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Văn Thị H – 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 26/5/2017, bị cáo Văn Thị H có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Theo các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo Văn Thị H tại phiên tòa: Vào lúc 14 giờ 20 phút ngày 16/9/2016, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 60B5- 439.23 lưu thông từ đường Lê Duẩn (nội ô thị trấn X), ra đường Quốc lộ 1A. Khi đến km 1794 + 700, Quốc lộ 1A, thuộc khu 8, thị trấn X, huyện P, tỉnh Đồng Nai, bị cáo điều khiển xe chuyển hướng sang bên phải nhưng không quan sát xe lưu thông trên đường nên đã va chạm với xe mô tô biển số 60B5- 556.64 do ông Nguyễn Minh H điều khiển chạy ngược chiều đến, gây tai nạn giao thông, làm ông H chết tại bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai

Hành vi điều khiển xe mô tô của bị cáo Văn Thị H đã vi phạm quy định tại khoản 1, Điều 9 “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.” và khoản 2 Điều 15 “Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.” Luật giao thông đường bộ năm 2008.

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm, đã xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây ra hậu quả người bị hại tử vong. Do đó cần xử lý nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Khi lượng hình, cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: khi xảy ra vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt (chưa có tiền án, tiền sự), là người dân tộc thiểu số, có người thân là người có công với cách mạng (bác ruột của bị cáo, ông Văn Th là liệt sỹ, được tặng huân chương kháng chiến hạng ba; bà nội là mẹ của liệt sỹ, được UBND huyện P tặng giấy khen), tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, được đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin bãi nại. Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo mức án 08 (Tám) tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, cũng cần xem xét thêm trong vụ án này cũng có một phần lỗi của người bị hại đã điều khiển xe mô tô trong lúc đã có uống rượu, bia, nồng độ cồn là 168.6 mg/dl, vượt quá giới hạn cho phép, bị cáo là phụ nữ, là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình cũng rất khó khăn. Vì vậy, nghĩ nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện sớm hòa nhập cộng đồng, trở thành người tốt có ích cho xã hội.

Đại diện VKSND tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa cũng có quan điểm cho rằng với tính chất, hành vi phạm tội nêu trên, mức án Tòa cấp sơ thẩm xét xử là phù hợp. Tuy nhiên, xét thấy trong vụ án này cũng có một phần lỗi của người bị hại là uống rượu trong lúc điều khiển xe mô tô, nồng độ cồn vượt mức cho phép, hoàn cảnh gia đình cũng rất khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Văn Thị H, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Văn Thị H, sửa bản án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 202; điểm b, p khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Văn Thị H 04 (Bốn) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí HSPT.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ