vanban.org

Bản án 217/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 18/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng E phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng E 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 29/7/2024. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm (chưa nộp). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng E phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 217/2024/HS-ST
Ngày 18 – 12 – 2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Oanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trịnh Anh Minh

Ông Tạ Bửu Thương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Như, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Châu Long – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 231/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 222/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hoàng E, sinh ngày 01/01/1985, tại Cà Mau. Nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: làm vuông; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh N (Nguyễn Thanh H) và bà Phạm Kim Ú; có vợ: Lê Thị N1, sinh năm 1991 (đã ly hôn) và 02 con; tiền án: không; tiền sự: 01 lần. Vào ngày 22/4/2024, bị Chủ tịch UBND xã T, huyện Đ ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy; nhân thân: Có 01 án tích: Tại bản án số 112/HSPT/2005 ngày 17/10/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/02/2007. Thi hành xong các khoản án phí ngày 09/11/2005, còn về phần dân sự, người thi hành án không yêu cầu thi hành án. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/7/2024, chuyển tạm giam từ ngày 04/8/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cà Mau cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ, ngày 29 tháng 7 năm 2024, do muốn có ma túy để sử dụng nên bị cáo đã sang nhà anh Võ Trọng N2, làm nghề chạy xe mô tô khách, nói chở bị cáo ra thành phố C sửa điện thoại. Anh Nguyễn C bị cáo từ nhà của anh Nguyễn Ở ấp C, xã T, huyện Đ ra đến thành phố C thì bị cáo kêu chở đến Miếu C1 thuộc khóm G, Phường G, Thành phố C với mục đích để mua ma túy về sử dụng.

Khi đến nơi, bị cáo xuống xe, đi bộ qua lộ gặp một thanh niên khoảng 30 tuổi không rõ nhân thân đang đứng ngoài mé lộ, biết người thanh niên có bán ma túy nên bị cáo đi đến gặp người thanh niên và nói “Lấy em cái 200.000 đồng” thì người thanh niên đồng ý bán. Sau khi nhận tiền xong, người thanh niên lượm dưới mé lộ lên 01 bọc ma túy đưa lại cho bị cáo. Bị cáo nhận ma túy bỏ vào túi quần Jean bên phải phía trước đang mặc trên người rồi đi ra xe, nói Nguyễn chở qua phường D, thành phố C để mua cơm. Đến khoảng 21 giờ 40 phút, Nguyễn Đ điều khiển xe mô tô chở bị cáo trên đường A thuộc khóm D, phường G, thành phố C thì bị lực lượng Công an yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Khi kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện thu giữ trong túi quần jean bên phải phía trước của Hoàng E đang mặc trên người 01 bọc nilon bên trong có chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma tuý. Lực lượng làm nhiệm vụ tiến hành niêm phong bọc nilon chứa tinh thể nghi là ma tuý vào phong bì hình chữ nhật dán kín lại được ký hiệu M.57/2024, đồng thời lập biên bản bắt người phạm tội quả tang vào lúc lúc 14 giờ 45 phút cùng ngày.

Tại biên bản về việc thử nước tiểu phát hiện nhanh chất ma túy lúc 22 giờ 00 phút ngày 29 tháng 7 tháng 2024 thể hiện bị cáo dương tính với chất ma túy trong cơ thể. Theo bản kết luận giám định số 436/KL-KTHS ngày 04/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận:

Tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon, được niêm phong kín trong phong bì hình chữ nhật ký hiệu M.57/2024 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,4607 gam, loại Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số 220/CT-VKS ngày 20/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng E về tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo Cáo trạng số 220/CT-VKS ngày 20 tháng 11 năm 2024 và đề nghị:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về vật chứng: Đối với phong bì hình chữ nhật, sau khi trích giám định và lưu số 436/KL-KTHS, ngày 04/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh C được chuyển kèm hồ sơ vụ án.

- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: bị cáo không khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp, được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng E hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã thu thập (Bút lục số 14, 18, 22, 23 và từ số 33 đến số 46, từ số 52 đến số E), do đó có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 21 giờ 40 phút, ngày 29/7/2024, bị cáo Nguyễn Hoàng E đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng là 0,4607 gam trong túi quần Jean bên phải phía trước mà bị cáo đang mặc trên người để sử dụng thì bị bắt quả tang.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội khác nên Hội đồng xét xử xét thấy cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nhằm răn đe và phòng ngừa chung trong toàn xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, cha mẹ bị cáo có công với cách mạng, cha của bị cáo là thương binh 4/4 được nhà nước tặng huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mẹ của bị cáo được nhà nước tặng huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự được Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

Về tang vật của vụ án, xét thấy số lượng ma túy bị niêm phong trong phong bì hình chữ nhật có ký hiệu M.57/2024, sau khi giám định đã hết mẫu nên không đề cập xem xét xử lý. Còn phong bì hình chữ nhật, sau khi trích giám định và lưu số 436/KL-KTHS, ngày 04/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh C đã được lưu tại hồ sơ nên không đề cập xử lý.

Đối với Võ Trọng N2, được bị cáo thuê dùng xe mô tô chở bị cáo đi từ huyện Đ đến thành phố C, không biết việc bị cáo Nguyễn Hoàng E đi mua ma túy nên Viện kiểm sát không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự là phù hợp.

Đối với người thanh niên mà bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, xét thấy, do không xác định được nhân thân cụ thể nên Viện kiểm sát tách ra giao cho Cơ quan điều tra xác minh làm rõ, có căn cứ xử lý sau nên không xử lý trong vụ án này.

Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng E phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng E 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 29/7/2024.

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm (chưa nộp).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ