- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tân B - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tân B và bị cáo
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 17 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 321 Bộ luật Hình sự Xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 217/2022/HS-PT Ngày: 07 - 11 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thanh Bình
Các Thẩm phán: Ông Võ Trung Hiếu
Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng
-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Mơ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 168/2022/TLPT-HS ngày 03 tháng 10 năm 2022 đối với các bị cáo Nguyễn Tân B, Trần Công K do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 59B/2022/HSST ngày 12 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Tân B, sinh năm: 1994, tại tỉnh Tiền Giang.
Nơi cư trú: ấp Đ, xã S, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm vườn; Cha tên: Nguyễn Văn C, sinh năm: 1962; Mẹ tên: Phạm Thị Tám E, sinh năm: 1961; Vợ tên: Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1993; có 01 người con sinh năm 2015; có 02 người chị, em (lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1995), bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa
2. Trần Công K (Tên gọi khác: B) sinh năm: 1985, tại tỉnh Tiền Giang. Nơi cư trú: ấp Đ, xã S, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị K; có 03 người anh, chị em ruột ( lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất sinh năm 1988) bị cáo con thứ ba trong gia đình, bị cáo không có vợ con; tiền sự: Không; tiền án: không. Bị cáo bị tạm giam ngày 14/11/2021 đến ngày 28/01/2022 thay đổi biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa
- Ngoài ra trong vụ án còn có 01 bị cáo; 10 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo; bản án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 01/2021, bị cáo Nguyễn Tân B có ý định tổ chức việc đánh bạc trực tuyến thắng thua bằng tiền để thu lợi, bị cáo Nguyễn Tân B gặp bị cáo Trần Công K nói ý định này và nhờ bị cáo K giúp đỡ tạo tài khoản cá cược trực tuyến, bị cáo K đồng ý.
Bị cáo K liên hệ với người tên thường gọi là H (không rõ nhân thân) tại Thành phố Hồ Chí Minh để lấy tài khoản đăng nhập vào trang web cá cược trực tuyến “ssvv388.com”. Tài khoản có tên “hp08bb0700XX”, kèm mật khẩu là “Bbbb01X”.
Sau khi có được tài khoản, mật khẩu cá cược từ H, bị cáo K chuyển lại cho bị cáo B để tự trao đổi, thỏa thuận với H về việc tổ chức cho con bạc cá cược trực tuyến. Theo lời khai của bị cáo B, khi dùng mật khẩu đăng nhập thì trong tài khoản cá cược có sẵn 1.000 đô, theo thỏa thuận giữa bị cáo B và H thì 01 đô trong tài khoản tương ứng với số tiền 20.000 đồng, tức là với 1.000 đô thì số tiền ban đầu trên hệ thống là 20.000.000 đồng.
Đến ngày 01/02/2021 bị cáo B và bị cáo K uống nước tại quán “X” tọa lạc tại ấp V, xã K, huyện T, tỉnh Tiền Giang, lúc này do anh Võ Chí T sinh năm 1983 đang quản lý. Hai bị cáo nói với anh T về ý định đặt thiết bị cá cược trực tuyến tại quán “X” để con bạc đến chơi, nhưng không nêu chi tiết. Theo lời khai của T, khi nghe ý định của bị cáo B và bị cáo K, nghĩ là chơi mức độ nhỏ nên T nói đồng ý. Nhưng thời điểm này T chuẩn bị sang lại quán nước cho người phụ bán là bị cáo Nguyễn Thanh T2; nên T kêu bị cáo B, bị cáo K liên hệ, bàn bạc cụ thể với bị cáo T2. Đến ngày 08/02/2021 anh T bàn giao toàn quyền quản lý, kinh doanh quán “X” cho bị cáo T2.
Sau khi tiếp nhận quán “X”, bị cáo T2 được bị cáo B đề nghị cho mượn địa điểm này để làm nơi tổ chức cá cược trực tuyến, mỗi ngày bị cáo B trả cho T2 số tiền 200.000 đồng, được bị cáo T2 đồng ý. Đến ngày 10/02/2021 bị cáo B mang đến quán “X” các thiết bị điện tử phục vụ cho việc cá cược trực tuyến gồm: Laptop, thiết bị sạc pin laptop, dây cáp nối laptop với ti vi. Bị cáo T2 mượn ti vi có sẵn tại quán, bàn ghế và nguồn điện để vận hành các thiết bị điện tử. Từ thời điểm này, bị cáo B bắt đầu tổ chức cho con bạc cá cược trực tuyến. Trong quá trình tổ chức, nếu có vấn đề nào không rõ thì bị cáo B sẽ liên lạc (nhắn tin, gọi điện thoại) cho bị cáo K để hỏi. Bị cáo K biết rõ việc tổ chức cá cược trực tuyến thắng thua bằng tiền của bị cáo B, theo lời khai thì bị cáo K không thu lợi nhưng khi được bị cáo B hỏi những vấn đề liên quan đến cá cược thì bị cáo K vẫn giúp trả lời để bị cáo B làm theo.
Hình thức đánh bạc trực tuyến mà bị cáo B tổ chức cho con bạc chơi là đá gà, đánh bài, nhưng chủ yếu là đá gà. Về phương thức cá cược đá gà trực tuyến, trước khi bắt đầu mỗi trận gà thì trên hệ thống sẽ hiện thị lên màn hình ti vi tỷ lệ cá cược và hai bên gà gồm: “Meron” – gà bên đỏ và “Wala” – gà bên xanh. Con bạc sẽ chọn 01 bên cùng số tiền muốn đặt cược, sau đó thông báo cho bị cáo B để nhập thông tin vào hệ thống. Khi trận gà trực tuyến kết thúc, hệ thống sẽ hiển thị kết quả thắng (“Win”) hoặc thua (“Loss”), lúc này bị cáo B sẽ chung tiền cho con bạc thắng cược hoặc thu tiền từ con bạc thua cược. Quy ước giữa bị cáo B và con bạc khi tham gia cá cược trực tuyến là 01 điểm (01 đô) trên hệ thống sẽ tương đương với 100.000 đồng tiền Việt Nam.
Vào ngày 21/02/2021, bị cáo B mang theo số tiền khoảng 6.000.000 đồng đến quán “X”, đăng nhập vào trang đánh bạc trực tuyến và tổ chức cho các con bạc đến cá cược, trong đó có: Lê Văn H, Nguyễn Văn N, Lê Văn Đ.
Đến 14 giờ cùng ngày, Phòng Cảnh sát Hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang phối hợp cùng Công an huyện T và Công an xã K tiến hành kiểm tra tại quán “X”. Qua kiểm tra phát hiện có nhiều người đang tụ tập đánh bạc thắng thua bằng tiền. Nên lực lượng Công an lập biên bản phạm tội quả tang đối với bị cáo Nguyễn Tân B đang có hành vi sử dụng thiết bị điện tử tổ chức việc cá cược qua mạng Internet thắng thua bằng tiền cùng số tiền 7.730.000 đồng để trên laptop mà bị cáo B sử dụng để đánh bạc.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 59B/2022/HSST ngày 12 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tân B, Trần Công K phạm tội “Đánh bạc”
1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tân B 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
2. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Công K 03 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ trừ ngày 14/11/2021 đến ngày 28/01/2022.
Ngoài ra trong bản án còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và
thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
* Ngày 16 tháng 5 năm 2022, bị cáo Nguyễn Tân B, Trần Công K có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản án sơ thẩm đã tuyên và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đơn kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên được cấp phúc thẩm xem xét. Về nội dung kháng cáo: Cấp sơ thẩm đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo, mức án Tòa án cấp sơ thẩm tuyên đối với các bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới nên kháng cáo của các bị cáo là không có căn cứ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tân B, Trần Công K giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Tân B, Trần Công K đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng và Bản án sơ thẩm đã nêu, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người liên quan và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã thể hiện: Vào ngày 21/02/2021, tại quán nước “ X” tọa lạc tại ấp V, xã K, huyện T, tỉnh Tiền Giang do Nguyễn Thanh T2 quản lý. Nguyễn Tân B sử dụng tài khoản đánh bạc trực tuyến trên internet để tổ chức việc đánh bạc thắng thua bằng tiền nhằm mục đích thu lợi bất chính. Giúp sức cho B trong việc tổ chức là Trần Công K trong việc liên hệ lấy tài khoản, mật khẩu đăng nhập; trao đổi, giúp đỡ B trong quá trình tổ chức cá cược. Số tiền đánh bạc bị phát hiện bắt quả tang là 7.730.000 (bảy triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng). Do đó cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì động cơ xấu, tham lam, muốn có tiền tiêu xài nhưng không phải lao động. Các bị cáo nhận thức được hành vi tổ chức cho người khác cờ bạc ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích vụ lợi vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo gây mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, tạo ra tâm lý hoang mang lo sợ bức xúc trong người dân nên cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Xét yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra, áp dụng tình tiết giảm nhẹ xử phạt bị cáo Nguyễn Tân B 03 năm 03 tháng tù và bị cáo Trần Công K 03 năm tù là có căn cứ. Ngoài ra, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm các bị cáo không bổ sung thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới để cấp phúc thẩm xem xét và các bị cáo không đủ điều kiện để được hưởng án treo nên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo.
Xét ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên có xem xét khi nghị án.
Về án phí: Bị cáo B và K phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tân B và bị cáo
Trần Công K.
1. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 59B/2022/HS-ST ngày 12 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tiền Giang đã quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Tân B và Trần Công K (tên gọi khác: B) phạm tội “Đánh bạc”.
1.1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tân B 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
1.2. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự
Xử phạt bị cáo Trần Công K 03 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/11/2021 đến ngày 28/01/2022.
2. Án phí: Bị cáo B và bị cáo K mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND tỉnh TG; - Sở tư pháp tỉnh TG; - Phòng hồ sơ CA tỉnh TG; - Trại tạm giam CATG; - TAND huyện T; - VKSND huyện T; - Công an huyện T; - THADS huyện T; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Võ Thanh Bình |