- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà M xin ly hôn với ông H"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG H án số: 217/2022/HNGĐ-ST Ngày: 30/5/2022 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Việt Quốc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Quốc Thanh;
2. Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền;
Thư ký ghi biên H phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Huynh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện A.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 14/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2022 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 238/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 277A/2022/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Cao Thị M, sinh năm 1987; Địa chỉ: Tổ 31, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1980; Địa chỉ: Tổ 31, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.
(Bà M có mặt, ông H vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 31/12/2021 cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Cao Thị M trình bày: Bà và ông H biết nhau do mai mối và cha mẹ định đoạt, đến tháng 7 năm 2008 tôi và ông H đã tiến tới hôn nhân và tổ chức lễ cưới. Có Đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện A, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 96 ngày 13/7/2013 Sau khi kết hôn, tôi và ông H chung sống hạnh phúc với nhau tại Tổ 31, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang. Đến cuối năm 2019, phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, nãy sinh nhiều mâu thuẫn, tính tình không phù hợp, nên vợ chồng nãy sinh nhiều mâu thuẫn, ông H thường xuyên đánh đập, bạo hành bà và các con. Bà và ông H không còn sống chung với nhau từ năm 2019 đến nay. Hai bên gia đình đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành. Nay, bà xn ly hôn với ông H.
Về con chung: Có hai con chung Cao Văn H, sinh ngày 11/10/2008 và Nguyễn Phước L, sinh ngày 15/3/2015. Hiện các con chung đang sống chung với ông Nguyễn Văn H. Khi ly hôn bà đồng ý giao hai con chung cho ông Nguyễn Văn H được tiếp tục nuôi dạy con chung và không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông H không có mặt theo triệu tập của Tòa nên không ghi nhận được ý kiến của ông H; ông H cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến. Bà M có yêu cầu không tiến hành hòa giải.
Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.
Theo cung cấp của Công an xã V tại Biên biên H xác minh ngày 09/3/2022 được biết, ông Nguyễn Văn H; sinh năm 1980 hiện vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại Địa chỉ: Tổ 31, ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa, bà M tự nguyện cấp dưỡng 02 con chung 2.000.000 đồng. Riêng ông H được triệu tập đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử vắng mặt, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn về hôn nhân và con chung có căn cứ nên đề nghị chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Cao Thị M khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn H. Đồng thời, ông H cư trú trên địa bàn huyện A. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A.
Về việc vắng mặt của đương sự: Ông H được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa bà M, ông H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V theo quy định nên được xem là hôn nhân hợp pháp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên thụ lý, giải quyết theo Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu của bà M xin ly hôn với ông H, Hội đồng xét xử xét thấy thời gian ly thân giữa bà M, ông H đã lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn. Đồng thời gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành. Xét thấy mâu thuẫn của bà M, ông H không thể hàn gắn. nên Hội đồng xét xử chấp nhận ly hôn theo yêu cầu của bà M theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Có 02 con chung tên: Cao Văn H, sinh ngày 11/10/2008 và Nguyễn Phước L, sinh ngày 15/3/2015. Hiện các con chung đang sống chung với ông Nguyễn Văn H. Khi ly hôn bà M đồng ý giao con chung cho ông Nguyễn Văn H được tiếp tục nuôi dạy con chung. Xét thấy, từ khi ly thân đến nay, cháu Lâm và cháu Hậu đang sống với ông H. Do đó, để tránh xáo trộn về mặt tâm lý đối với con chung và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên nên Hội đồng xétt xử chấp nhận cho ông H tiếp tục nuôi Lâm và cháu Hậu là phù hợp.
Về cấp dưỡng: Tại phiên tòa, bà M tự nguyện cấp dưỡng 02 con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện.
[5] Về tài sản chung: Bà M xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết. Tuy nhiên, nếu ông H có căn cứ xác định có tài sản chung thì có thể khởi kiện và sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
Về nợ chung: Bà M và ông H không yêu cầu nên không xem xét.
[6] Về án phí: Bà M là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Ông Vũ không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016;
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Cao Thị M.
Về hôn nhân: Bà Cao Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 96 ngày 13/07/2013 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện A, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Về con chung: Ông Nguyễn Văn H được tiêp tục nuôi con chung Cao Văn H, sinh ngày 11/10/2008 và Nguyễn Phước L, sinh ngày 15/3/2015.
Bà M tự nguyện cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng là 2.000.000 đ (Hai triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.
Ông H cùng các thành viên gia đình không được cản trở bà M trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Về án phí: Bà M phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ 300.000 đồng từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006709 ngày 10/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A. Bà M nộp thêm 300.000 đồng.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/5/2022), bà M được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo của ông H là 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp H án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh AG (1); - VKS tỉnh AG (1); - VKS huyện AP (2); - THADS huyện AP (1); - UBND xã Quốc Thái(1); - Các đương sự (2); - Lưu VP (1); - Lưu HS (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Việt Quốc |