- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Minh - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn M phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN ND TP. BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 217/2019/HS-ST Ngày: 16-5-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Thành Tân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Trang Văn Hai
Bà: Trương Thị Thìn
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trịnh Viết Dược
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Đặng Hoàng Oanh – Kiểm sát viên.
-----------
Ngày 16 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 175/2019/TLST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 178/2019/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:
Bùi Văn M; sinh năm: 1971 tại Đồng Nai; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: 71, tổ 7, ấp P, xã T, TP. H, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở hiện nay: 71, tổ 7, ấp P, xã T, TP. H, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 09/12; con ông Bùi Văn R, sinh năm: 1937 và bà Đỗ Thị Đ, sinh năm: 1941; có vợ là Trương Thị D, sinh năm: 1978; có 03 (ba) con, con lớn nhất sinh năm: 1996, con nhỏ nhất sinh năm: 2007; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ ngày 05 tháng 12 năm 2018, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 08 tháng 12 năm 2018; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn M làm nghề buôn bán tạp hóa tại nhà ở số 71, tổ 7, ấp P, xã T, TP. H. Khoảng cuối năm 2018, M còn ghi số đề cho một số người mua đề không rõ lai lịch, địa chỉ. Cách thức như sau:
Căn cứ vào kết quả mở số của Công ty xổ số kiến thiết miền Bắc hoặc các Công ty xổ số kiến thiết các tỉnh phía Nam, người mua lô số đề có thể lựa chọn các hình thức chơi như đầu – đuôi, bao lô 02 số, 03 số; số đá 01 vòng, 02 vòng và 03 vòng theo các quy ước như sau:
+ Nếu chơi đầu – đuôi 02 số, bao lô 02 số thì người mua sẽ chọn 02 số, trùng với 02 số của giải tám hoặc 02 số cuối của giải đặc biệt; hoặc bao lô 02 số cuối của 18 lô xổ số thì người mua đề sẽ thắng số tiền gấp 70 lần số tiền đã mua đề.
+ Nếu chơi đầu – đuôi 03 số, bao lô 03 số thì người mua sẽ chọn 03 số, trùng với 03 số của giải bảy hoặc 03 số cuối của giải đặc biệt; hoặc bao lô 03 số cuối của 17 lô xổ số thì người mua đề sẽ thắng số tiền gấp 500 lần số tiền đã mua đề.
+ Nếu chơi số đá 01 vòng, 02 vòng và 03 vòng thì người mua sẽ chọn 02 cặp số trong 18 lô xổ số mà khi quay trúng cặp đã chọn 01 lần thì thắng số tiền 140.000đ (một trăm bốn mươi nghìn đồng); nếu cặp số trúng lặp lại 02 lần thì thắng số tiền 210.000đ (hai trăm mười nghìn đồng), lặp lại 03 lần thì thắng số tiền 280.000đ (hai trăm tám mươi nghìn đồng).
Nếu người mua đề chọn những số không trùng với kết quả xổ số thì M sẽ được hưởng toàn bộ số tiền của người mua đề.
Người mua số đề sẽ trực tiếp đến nhà của M để ghi số đề. Sau đó M sẽ tổng hợp từ những tờ phơ đề nhỏ ghi cho khách ra 01 tờ giấy học sinh để tính thắng thua sau khi có kết quả xổ số. Để khuyến khích người mua, M sẽ giảm 20% trên tổng số tiền cho người mua lô đề.
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 05/12/2018, Bùi Văn M bị phát hiện, bắt quả tang khi đang bán số đề đài miền Bắc cho Phạm Cao S với số tiền là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Quá trình điều tra đã làm rõ, trong ngày 05/12/2018, M đã ghi đề cho nhiều người không rõ lai lịch, địa chỉ, cụ thể:
+ Dựa vào kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Đồng Nai, M đã ghi đề với tổng số tiền thể hiện trên phơ là 18.172.000đ (mười tám triệu, một trăm bảy mươi hai nghìn đồng), sau khi trừ tiền khuyến mãi cho người mua đề và người mua đề chưa trả tiền, M thu được khoảng 14.537.600đ (mười bốn triệu, năm trăm ba mươi bảy nghìn, sáu trăm đồng). Qua đối chiếu với kết quả xổ số trong ngày thì người mua đề trúng số tiền 16.170.000đ (mười sáu triệu, một trăm bảy mươi nghìn đồng), M đã trả 13.841.600đ (mười ba triệu, tám trăm bốn mươi mốt nghìn, sáu trăm đồng) cho người trúng đề, còn lại số tiền 696.000đ (sáu trăm chín mươi sáu nghìn đồng).
+ Dựa vào kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc, M đã ghi đề với tổng số tiền thể hiện trên phơ là 10.942.500đ (mười triệu, chín trăm bốn mươi hai nghìn, năm trăm đồng), sau khi trừ tiền khuyến mãi cho người mua đề và người mua đề chưa trả tiền, M thu được khoảng 8.754.000đ (tám triệu, bảy trăm năm mươi tư nghìn đồng). Do xổ số miền Bắc chưa đến giờ mở số nên chưa xác định được người trúng lô đề.
M khai vào cuối mỗi ngày, M sẽ tổng hợp lại kết quả bán lô đề riêng theo từng đài vào 02 tờ giấy giao cho đối tượng tên Gái (không rõ nhân thân, lai lịch). M dùng tiền mua bán lô đề trong ngày để trả tiền cho người chơi trúng đề; còn Gái thì khoảng 2-3 ngày sẽ đến nhà M lấy số tiền thắng, hoặc trả lại tiền thua đề cho M, đồng thời cũng trả tiền công ghi đề cho M là 5% trên tổng số tiền thu được trong ngày. Mỗi tháng tiền thu lợi từ việc ghi số đề của M là khoảng 5.000.000đ (năm triệu đồng), số tiền M thu lợi bất chính từ cuối tháng 8/2018 đến ngày 05/12/2018 là 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng).
Vật chứng được thu giữ trong vụ án:
+ 9.450.000đ (chín triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền M ghi đề trong ngày 05/12/2018.
+ 02 (hai) tờ giấy học sinh tổng hợp kết quả bán lô số đề đài miền Nam và đài miền Bắc trong ngày 05/02/2018.
+ 01 (một) máy tính Casio được M sử dụng vào việc thực hiện tội phạm.
+ 63 (sáu mươi ba) tờ phơ nhỏ (kích thước 7 x 15cm) ghi số đề cùng số tiền cá cược trong ngày 05/12/2018, 01 (một) tờ phơ nhỏ (kích thước 7 x 15cm) ghi số đề cùng số tiền cá cược trong ngày 05/12/2018 M ghi cho Phạm Cao S và 01 (một) tờ giấy than.
+ 160.000.000đ (một trăm sáu mươi triệu đồng) thu giữ trong phòng ngủ của M; qua điều tra đã xác định đây là tiền mà anh Đồng Quang P (con rể của M) nhờ M giữ giùm và không liên quan đến việc thực hiện tội phạm nên Cơ quan điều tra đã giao trả lại cho anh P.
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A7 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 6300; qua điều tra đã xác định đây là tài sản của M và không liên quan đến việc thực hiện tội phạm nên Cơ quan điều tra đã giao trả lại cho M.
Tại Cáo trạng số: 191/CT-VKS-BH ngày 09 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa đã truy tố bị cáo Bùi Văn M về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Bùi Văn M về tội “Đánh bạc”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
+ Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo M từ 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) đến 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).
+ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự để: tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 9.450.000đ (chín triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng) và 01 (một) máy tính Casio là tiền do phạm tội mà có và công cụ được sử dụng vào việc thực hiện tội phạm; tịch thu tiêu hủy 64 (sáu mươi tư) tờ phơ nhỏ (kích thước 7 x 15cm) và 01 (một) tờ giấy than là vật chứng của vụ án liên quan đến việc thực hiện tội phạm; buộc bị cáo M phải nộp lại 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) tiền thu lợi bất chính để sung vào ngân sách Nhà nước.
Bị cáo không phát biểu bào chữa cho mình và cũng không yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu khác ngoài những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ của vụ án ra xem xét tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP. Biên Hòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa:
Trong quá trình điều tra, truy tố thì Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo cũng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên nên các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, đúng theo quy định của pháp luật.
. Về hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo:
Vào ngày 05/12/2018, tại nhà số 71, ấp P, xã T, TP. H, Bùi Văn M đã có hành vi ghi số đề cho nhiều người và dựa vào kết quả xổ số kiến thiết hàng ngày để tính kết quả thắng thua trực tiếp bằng tiền. Tổng số tiền mà M đã sử dụng vào việc đánh bạc là 45.284.500đ (bốn mươi lăm triệu, hai trăm tám mươi tư nghìn, năm trăm đồng). Tổng số tiền thu lợi bất chính của M là 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng).
Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn M đã khai nhận hành vi thực hiện tội phạm của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của Người làm chứng và các chứng cứ khác được thể hiện tại hồ sơ vụ án; phù hợp với những nội dung mà bản Cáo trạng đã viện dẫn và truy tố.
Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Bùi Văn M đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng tại địa phương.
. Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Không có.
. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và là lao động chính trong gia đình là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Về quyết định hình phạt:
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì chỉ cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
. Về các nội dung khác có liên quan đến vụ án:
Đối với Phạm Cao S đã có hành vi đánh bạc nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an TP. Biên Hòa đã xử phạt hành chính là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng tên Gái và một số đối tượng khác (không rõ nhân thân, lai lịch) đã có hành vi nhận tiền đánh bạc, tờ phơ đề và mua số đề từ bị cáo M, hiện Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và sẽ xử lý sau.
. Về các biện pháp tư pháp:
Đối với 9.450.000đ (chín triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng) và 01 (một) máy tính Casio là tiền do phạm tội mà có và công cụ được sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với 64 (sáu mươi tư) tờ phơ nhỏ (kích thước 7 x 15cm) và 01 (một) tờ giấy than là vật chứng của vụ án liên quan đến việc thực hiện tội phạm, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) tiền thu lợi bất chính, cần buộc bị cáo nộp lại để sung vào ngân sách Nhà nước.
. Về tiền án phí: bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
. Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn M phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt: Bùi Văn M 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).
- Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 9.450.000đ (chín triệu, bốn trăm năm mươi nghìn đồng) và 01 (một) máy tính Casio.
+ Tịch thu tiêu hủy 64 (sáu mươi tư) tờ phơ nhỏ (kích thước 7 x 15cm) và 01 (một) tờ giấy than.
(Tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản và Biên lai thu tiền số 000389 ngày 22 tháng 4 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Biên Hòa).
+ Buộc bị cáo Bùi Văn M nộp lại số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) thu lợi bất chính để sung vào ngân sách Nhà nước.
+ Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Bùi Văn M phải nộp số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
+ Bị cáo Bùi Văn M được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa; - Công an TP. Biên Hòa; - Chi cục thi hành án dân sự TP. Biên Hòa; - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thành Tân |