vanban.org

Bản án 217/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Ngọc Đ và anh Ngô Thành Hải A.

Về nuôi con chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn giữa Đ và A"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Ngọc Đ và anh Ngô Thành Hải A.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI BÈ
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 217/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 15-11-2017
V/v “tranh chấp xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vũ Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Mã Thanh Trung 2. Ông Võ Văn Cường

- Thư ký phiên tòa: Bà Âu Thị Thảo là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang không tham gia phiên toà. Ngày 15 tháng 11 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 644/2017/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2017 về “tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 203/2017/QĐXX-ST ngày 16 tháng 10 năm 2017 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc Đ

sinh năm: 1984 Hộ khẩu thường trú: ấp X, xã Y, huyện T, tỉnh Tiền Giang Chổ ở hiện nay: ấp X, xã Y, huyện C, tỉnh Tiền Giang 2. Bị đơn: Anh Ngô Thành Hải A

sinh năm: 1985 Địa chỉ: ấp X, xã Y, huyện C, tỉnh Tiền Giang

(Chị Đ có mặt, anh A vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 24 tháng 8 năm 2017 và trong quá trình xét xử nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Ngọc Đ trình bày: Chị và anh Ngô Thành Hải A xác lập quan hệ vợ chồng với nhau vào năm 2015, không có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chị sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp tính tình, anh A hay ghen tuông vô cớ nên thường xuyên cãi nhau và cũng không còn chung sống với nhau từ ngày 15 tháng 8 năm 2017 đến nay, không có hàn gắn tình cảm. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh A. Về con chung: không có nên không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu giải quyết.

Anh Ngô Thành Hải A đã được Tòa án nhân dân huyện Cái Bè tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng anh A không có văn bản gửi Tòa án thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị Đ.

Tại phiên tòa chị Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu như trên, anh A đã được Tòa án nhân dân huyện Cái Bè triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh A là phù hợp điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Chị Nguyễn Thị Ngọc Đ và anh Ngô Thành Hải A chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2015. Trong quá trình chung sống theo chị Đ trình bày là đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không hợp tính tình, anh A hay ghen tuông vô cớ nên thường xuyên cãi nhau. Anh A vắng mặt và không có văn bản gửi Tòa án thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị Đ. Xét thấy chị Đ và anh A chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2015 không có đăng ký kết hôn, tuy chị Đ và anh A có đủ điều kiện để đăng ký kết hôn nhưng chị Đ và anh A không thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là vi phạm theo quy định tại điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó quan hệ vợ chồng giữa chị Đ và anh A không được pháp luật thừa nhận nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Hội đồng xét xử xét thấy cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Đ và anh A là phù hợp điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 9, 14, 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Xử:

1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Ngọc Đ và anh Ngô Thành Hải A.

2. Về nuôi con chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 07426 ngày 25 tháng 8 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C; chị Đ đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Chị Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Đối với anh A thời hạn kháng cáo trên được tính kể từ ngày được Tòa án tống đạt bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ