- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và Gia đình"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều O
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 216/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10 – 4 - 2024 V/v ly hôn Oanh – Học |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đình Phùng.
Ông Nguyễn Văn Ngân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 406/2023/TLST - HNGĐ ngày 16/10/2023 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 06 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm 1986.
Bị đơn: Ông Nguyễn Thái H, sinh năm 1984.
Cùng trú tại: tổ C, ấp B, xã B, huyện P, tỉnh An Giang.
(Các đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 14/9/2023 nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều O trình bày:
Hôn nhân bà O và ông H thông qua mai mối, được sự đồng ý của hai bên gia đình, tổ chức lễ cưới theo nghi thức truyền thống năm 2006 nhưng đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B Đông năm 2007. Sau khi kết hôn vợ chồng đi làm công nhân tại Bình Dương. Thời gian đầu sống hạnh phúc về sau phát sinh mâu thuẫn, do không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cải nhau vì chuyện tiền nông, ông H bỏ nhà đi, vợ chồng ly thân với nhau từ năm 2022 đến nay, trong thời gian ly thân không ai quan tâm đến ai, nay tình cảm không còn, bà O yêu cầu được ly hôn với ông H.
- Về con chung: 02 con chung tên Nguyễn Thái D, sinh ngày 19/01/2010, Nguyễn Thái N, sinh ngày 06/6/2007, hai con chung hiện đang sống chung với bà O, khi ly hôn bà O yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng.
Tài sản chung: Tự thoả thuận.
Nợ chung: Không.
Bị đơn ông Nguyễn Thái H vắng mặt từ khi Toà án thụ lý nên không có lời trình bày.
Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân được đại diện ấp B, xã B cung cấp thông tin: ông Nguyễn Thái H, sinh năm 1984 có hộ khẩu thường trú tại ấp B, xã B, huyện P, tỉnh An Giang. Hiện tại ông H không có mặt tại địa phương do đi làm xa, thỉnh thoảng mới về nhà một lần, về tình trạng hôn nhân giữa ông H, bà O thì không rõ do bà O, ông H không thường xuyên sinh sống tại địa phương.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu về quá trình tiến hành tố tụng và đề xuất như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật. Ông H không có mặt theo các thông báo là thực hiện không đúng Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu cho bà O được ly hôn với ông H. Giao hai con chung tên Nguyễn Thái D, sinh ngày 19/01/2010, Nguyễn Thái N, sinh ngày 06/6/2007 cho bà O tiếp tục nuôi dưỡng, bà O không yêu cầu ông H cấp dưỡng cho con nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết, nợ chung không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: bà O yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung với ông H nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có nơi cư trú tại xã B, huyện P, tỉnh An Giang nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn được tống đạt hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1 Về hôn nhân: bà O và ông H tự nguyện đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo nghi thức truyền thống năm 2006 và có đăng ký kết hôn năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã B là hôn nhân hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Trong thời gian chung sống bà O, ông H không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cải nhau vì những chuyện vặt trong gia đình, bất đồng quan điểm sống, ông H bỏ nhà đi từ năm 2020 đến nay, vợ chồng ly thân, trong thời gian ly thân ông H, bà O không điện thoại hỏi thăm nhau hay có ý hàn gắn tình cảm vợ chồng, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, bà O xin ly hôn ông H.
Theo quy định tại Điều 19, Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau….”. Thế nhưng vợ chồng ông H, bà O không còn chung sống khoảng hơn hai năm nay là khoảng thời gian dài. Điều này chứng tỏ vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cũng như không thể chia sẻ công việc trong gia đình với nhau được nữa, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thống nhất cho bà O được ly hôn ông H.
[2.2] Về con chung: Có hai con chung tên Nguyễn Thái D, sinh ngày 19/01/2010, Nguyễn Thái N, sinh ngày 06/6/2007, các con chung đang sống chung bà O, khi ly hôn bà O yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng. Xét từ khi ly thân đến nay con chung đang sống với bà O, có cuộc sống ổn định, nên tiếp tục giao hai con chung cho bà O nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà O không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên không xem xét giải quyết.
[2.3] bà O trình bày tài sản chung tự thoả thuận, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết. Nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân thì phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
[2.4] Về án phí: bà O phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kiều O
Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Kiều O được ly hôn ông Nguyễn Thái H.
Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thái Dương, sinh ngày 19/01/2010, Nguyễn Thái N, sinh ngày 06/6/2007 cho bà Nguyễn Thị Kiều O tiếp tục nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Thái H không phải cấp dưỡng cho con.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, cơ quan tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết, nợ chung không có.
Về án phí: bà Nguyễn Thị Kiều O phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006567 ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Bà O không phải nộp thêm án phí.
Ông Nguyễn Thái H không phải chịu án phí.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. bà O, ông H vắng mặt thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - UBND xã nơi đăng ký kết hôn; - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; - Lưu: hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Ngọc Thảo |