vanban.org

Bản án 216/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 04/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm g, o khoản 2 Điều 249; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Điểm c, điểm d khoản 2 Điều 290; Điều 106 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo NTCT phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LTCT 249 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm g, o khoản 2 Điều 249; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 216/2022/HS-ST
Ngày: 04 -8- 2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Nhâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Nguyễn Hồng Chiến

- Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa là Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 211/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 231/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

NTCT, sinh năm 2000 tại Vĩnh Long; thƣờng trú: Ấp MH, xã HL, huyện TB, tỉnh VL; tạm trú: 44/3 khu phố BQB, phƣờng BC, thành phố TA, tỉnh BD; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông không rõ và bà NKC, sinh năm 1981, chồng LMT, sinh năm 1992, có 02 con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2021; tiền án: Ngày 04/8/2020 bị Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 11 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 04/10/2021 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng khởi tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), hiện thi hành án phạt tù theo quyết định số 240/2020/QĐ-CA ngày 17/9/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng, bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt theo đơn ngày 23/7/2022.

- Ngƣời làm chứng:

+ HTQ, vắng mặt.

+ TTMP, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vào lúc 13 giờ 25 phút ngày 24/12/2021, Công an phƣờng Thuận Giao kiểm tra hành chính quán cà phê Tình Bạn Hữu, tại địa chỉ: A0/18, khu phố Bình Thuận 2, phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, khi kiểm tra đến chòi lá số 5 (hƣớng từ cửa chính nhìn vào bên tay phải) thì có NTCT và HTQ đang ngồi ở trong chòi. Tại thời điểm kiểm tra, lực lƣợng Công an phát hiện trên bàn gỗ giữa chòi lá có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, trên ghế nhựa màu đỏ bên cạnh vị trí Tiên ngồi có 01 túi nylon màu trắng đựng 01 túi vải màu xám, bên trong túi vải màu xám có 01 túi nylon miệng kéo dính viền đỏ chứa tinh thể màu trắng (nghi vấn ma túy tổng hợp); 01 túi nylon miệng kéo dính viền trắng chứa tinh thể màu trắng (nghi vấn ma túy tổng hợp); 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (nghi vấn ma túy tổng hợp); 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (nghi vấn ma túy tổng hợp). Lúc này, T khai nhận khai nhận do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 24/12/2021, T điện thoại cho Hiển (chƣa rõ nhân thân, địa chỉ) là bạn quen biết ngoài xã hội nhờ Hiển mua dùm 500.000 đồng ma túy đá thì H đồng ý và hẹn T đến quán cà phê trên để nhận ma túy. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, T đến quán cà phê và vào chòi số 5 gặp H, tại đây H lấy túi vải chứa ma túy bên trong và lấy ra một ít ma túy để H và T cùng sử dụng. Sau khi cả hai sử dụng ma túy xong, H đƣa túi vải chứa số ma túy trên cho T xem, nói bên trong có chứa ma túy và nhờ T cất giữ hộ để H đi công việc sẽ quay lại ngay bán cho T sau, T đồng ý cát giữ và ngồi trong chòi đợi H đi công chuyện. T vừa rời đi thì Q cũng tới quán uống cà phê, khi đi ngang qua chòi số 5 thì gặp T (Q là bạn của T và cũng là đối tƣợng nghiện ma túy với nhau) nên thấy có sẵn bộ dụng cụ sử dụng ma túy để trên bàn nên Q xin sử dụng ma túy còn sót lại trong bộ dụng cụ thì T đồng ý, Q chƣa kịp sử dụng thì bị lực lƣợng Công an phát hiện kiểm tra bắt giữ cùng tang vật nhƣ trên. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của NTCT phát hiện và thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá trên nóc tủ phòng ngủ của T

Tang vật thu giữ:

- 01 (một) túi nylon màu trắng;

- 01 (một) túi vải màu xám;

- 01 (một) túi nylon miệng kéo dính viền đỏ chứa tinh thể màu trắng (nghi vấn ma túy tổng hợp);

- 01 (một) túi nylon miệng kéo dính viền trắng chứa tinh thể màu trắng (nghi vấn ma túy tổng hợp);

- 01 (một) gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (nghi vấn ma túy tổng hợp);

- 01 (một) gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (nghi vấn ma túy tổng hợp);

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen kèm sim số 0333.516.812;

- 02 (hai) bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

Ngày 28/12/2021, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng có Bản kết luận giám định số 32/MT-PC09 ngày 28/12/2021 và Bản bổ sung kết luận giám định số 32A/MT-PC09 ngày 07/01/2022, kết luận: 01 túi nylon miệng kéo dính viền đỏ chứa tinh thể màu trắng (M1), là ma túy có khối lƣợng 3,2966 gam, loại Methamphetamine. 01 túi nylon miệng kéo dính viền trắng chứa tinh thể màu trắng (M2), là ma túy có khối lƣợng 10,2000 gam, loại Methamphetamine. 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (M3), là ma túy có khối lƣợng 2,5883 gam, loại Methamphetamine. 01 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (M4), là ma túy có khối lƣợng 2,5425 gam, loại Methamphetamine. Tổng khối lƣợng ma túy NTCT tàng trữ là 18,6274 gam, loại Methamphetamine.

Cáo trạng số 204/CT-VKS-TA ngày 25/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố bị cáo NTCT về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g, o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An trình bày lời luận tội trong đó có nội dung giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị áp dụng điểm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm c và điểm d khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo NTCT mức hình phạt từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù, tổng hợp hình phạt 11 năm tù của bản án số 151/2020/HS-ST của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng buộc bị cáo phải chấp hành chung hình phạt của 02 bản án từ 18 (mƣời tám) năm tù đến 19 (mƣời chín) năm tù.

- Về vật chứng:

Đối với 01 (một) bì thƣ niêm phong ghi số 32/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng bên trong có: 2,9367 gam (M1); 9,8846 gam (M2); 2,4177 gam (M3); 2,3107 gam (M4) là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng; 01 túi nylon màu trắng; 01 túi vải màu xám; 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy là tang vật của vụ án, không có giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 gắn sim số 0333.516.812 là phƣơng tiện liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nƣớc.

Đối với HTQ, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An xác định Q không biết Tiên cất giấu ma túy, T cũng không nói cho Q biết nên Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An không xem xét xử lý là có căn cứ. Tuy nhiên, qua kiểm tra tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm y tế thành phố Thuận An đối với HTQ xác định Quân có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine nên Trƣởng Công an phƣờng Thuận Giao đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPVPHC ngày 29/12/2021 đối với HTQ là có căn cứ.

Đối với ngƣời thanh niên tên H là ngƣời đƣa số ma túy trên cho NTCT cất giữ, quá trình điều tra T khai nhận: H là bạn bè quen biết ngoài xã hội, khoảng 32 tuổi, cao 1m70cm, dáng mập, da đen, dân tộc Khmer, quê ở tỉnh Sóc Trăng, sống ở khu vực khu phố Bình Thuận 2, phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An. Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An đã thông tin tội phạm và cùng phối hợp Công an phƣờng Thuận Giao tiến hành xác minh nhƣng không xác định đƣợc thông tin lai lịch đối tƣợng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đang tiếp tục xác minh làm rõ xử lý theo quy định.

- Bị cáo có đơn xét xử vắng mặt và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp. Bị cáo NTCT có yêu cầu xét xử vắng mặt ngày 23/7/2022, đơn đƣợc Trại giam An Phƣớc xác nhận. Xét thấy, đây là yêu cầu tự nguyện của bị cáo, việc vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử, phù hợp với điểm c và điểm d khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị cáo.

Quá trình tố tụng bị cáo NTCT khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố bị cáo trƣớc Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 13 giờ 25 phút ngày 24/12/2021, tại quán cà phê Tình Bạn Hữu, địa chỉ: A0/18, khu phố Bình Thuận 2, phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, NTCT đã có hành vi tàng trữ trái phép 18,6274 gam ma túy, loại Methamphetamine thì bị phát hiện, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điểm g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo NTCT về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 là hoàn toàn có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý của Nhà nƣớc về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội tại địa phƣơng, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội, nhiều căn bệnh hiểm nghèo, tạo gánh nặng cho xã hội. Bản thân bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức đƣợc tác hại của ma túy, biết rằng việc tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm và sẽ bị trừng trị nhƣng bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện ý thức xem thƣờng pháp luật. Do đó việc đƣa bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần xử phạt bị cáo với mức án phù hợp, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, nhất là trong giai đoạn hiện nay, tình hình tội phạm về ma túy diễn ra ngày càng nhiều, thủ đoạn ngày càng tinh vi, để lại những hậu quả nặng nề, gây nhiều bức xúc cho xã hội.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét tại bản án số 151/2020/HS-ST của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng đã xử phạt bị cáo mức án 11 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nên cần áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung của 02 bản án.

Mức đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đối với bị cáo NTCT là phù hợp nên chấp nhận.

. Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) bì thƣ niêm phong ký hiệu số 32/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng bên trong có: 2,9367 gam (M1); 9,8846 gam (M2); 2,4177 gam (M3); 2,3107 gam (M4) là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng; 01 túi nylon màu trắng; 01 túi vải màu xám; 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy là tang vật của vụ án, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 gắn sim số 0333.516.812 là phƣơng tiện liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nƣớc.

Đối với HTQ, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An xác định Quân không biết Tiên cất giấu ma túy, Tiên cũng không nói cho Q biết nên Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An không xem xét xử lý là có căn cứ. Tuy nhiên, qua kiểm tra tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm y tế thành phố Thuận An đối với HTQ xác định Quân có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine nên Trƣởng Công an phƣờng Thuận Giao đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPVPHC ngày 29/12/2021 đối với HTQ là có căn cứ.

Đối với ngƣời thanh niên tên Hiển là ngƣời đƣa số ma túy trên cho NTCT cất giữ, quá trình điều tra Tiên khai nhận: H là bạn bè quen biết ngoài xã hội, khoảng 32 tuổi, cao 1m70cm, dáng mập, da đen, dân tộc Khmer, quê ở tỉnh Sóc Trăng, sống ở khu vực khu phố Bình Thuận 2, phƣờng Thuận Giao, thành phố Thuận An. Cơ quan điều tra Công an thành phố Thuận An đã thông tin tội phạm và cùng phối hợp Công an phƣờng Thuận Giao tiến hành xác minh nhƣng không xác định đƣợc thông tin lai lịch đối tƣợng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đang tiếp tục xác minh làm rõ xử lý theo quy định.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm g, o khoản 2 Điều 249; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Điểm c, điểm d khoản 2 Điều 290; Điều 106 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo NTCT phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo NTCT 07 (bảy) năm tù. Tổng hợp hình phạt 11 (mƣời một) năm tù của bản án số 151/2020/HSST ngày 04/8/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 18 (mƣời tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù từ ngày 17 tháng 01 năm 2022

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thƣ niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng ký hiệu số 32/PC09 mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 túi nylon màu trắng; 01 túi vải màu xám; 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nƣớc một điện thoại Nokia 105 màu đen kèm sim số 0333.516.812

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/6/2022).

3. Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo NTCT phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Cỡ chữ