- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự tội mua bán trái phép chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? luật hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 216/2022/HS-ST Ngày:27/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Huê
Các Hội thẩm: Bà Nguyễn Thị Tâm - Cán bộ UBND phường
Bà Nguyễn Thị Xuân Nữ - Cán bộ UBND quận Cầu Giấy
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Hà Hùng Cường - Cán bộ Toà
án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội tham gia
phiên tòa: Ông Nghiêm Đình Trọng - Kiểm sát viên.
Hôm nay ngày 27/9/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành
phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 209/2022/HSST ngày 15/9/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trịnh Phúc T - sinh năm 1996; ĐKHKTT: Thôn T, xã H, huyện
H, tỉnh T; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Con ông: Trịnh Phúc H; Con bà: Lê Thị T; Theo danh chỉ bản số 0000265 lập ngày 20/06/2022 tại Công an quận Cầu Giấy và lý lịch địa phương cung cấp thì bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 12/6/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam
số 01 Công an thành phố Hà Nội. (có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lê Anh T, sinh năm 1996. (vắng mặt)
HKTT: TDP T, phường T, quận N, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Khoảng 11h45' ngày 11 tháng 06 năm 2022, tổ công tác Công an phường
Yên Hòa, làm nhiệm vụ tại khu vực đầu ngõ 217 Yên Hòa, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội phát hiện Trịnh Phúc T và Lê Anh T1 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện thu giữ trong túi quần trước bên phải T đang mặc 01 túi nilon bên trong chứa thảo mộc khô. Tại chỗ, T khai nhận túi thảo mộc khô trên là cần sa T mang bán cho khách kiếm lời. Kiểm tra thu giữ của T1 thu số tiền 100.000 đồng T1 khai là tiền mua cần sa nhưng chưa kịp mua thì bị bắt giữ. Tổ công tác tiến hành lập biên bản thu giữ, niêm phong tang vật và đưa các đối tượng về trụ sở làm việc. Tại Công an phường Yên Hòa, T khai còn cất giấu 01 túi cần sa tại phòng trọ 402 số 2 ngõ 217 phố Yên Hòa và dẫn cơ quan Công an đến tự nguyện giao nộp 01 túi cần sa trên. Cơ quan Công an tiến hành lập biên bản thu giữ niêm phong tang vật. Ngoài ra còn thu giữ của T chiếc điện thoại Iphone 8 và thu giữ của T1 01 điện thoại di động Nokia 105.
Kết luận giám định số 3873/KL-KTHS ngày 19/6/2022 của phòng kỹ thuật
hình sự PC09 - Công an thành phố Hà Nội kết luận:
- Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilon có khối lượng: 0,616gam là Cần sa.
- Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilon có khối lượng: 0,953gam là Cần sa.
Tại cơ quan Công an, Trịnh Phúc Trung khai: Bản thân sử dụng cần sa từ
tháng 4/2022 đến nay. Do có nhu cầu sử dụng cần sa và bán lại kiếm lời nên T sử dụng tài khoản "Long69" lên mạng xã hội Telegram tìm mua cần sa. Sau đó T thấy 01 tài khoản không quen biết rao bán cần sa nên liên hệ hỏi mua của người này 700.000 đồng tiền cần sa. Người này đồng ý và cả hai hẹn giao dịch tại khu vực cầu Cót, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Đến khoảng 19h30' ngày 10/06/2022, người này gọi điện cho T qua Telegram bảo ra cầu Cót để nhận cần sa. Sau khi mua được của người này 02 túi cần sa, mỗi túi 350.000đ, tổng hết 700.000đồng, T mang về phòng trọ tại P402 số 2 ngõ 217 Yên Hòa cất giấu đồng thời rao bán cần sa trên mạng xã hội Telegram. Đến khoảng 14h ngày 10/06/2022, T nhận được tin nhắn từ tài khoản "Dương Thái" hỏi mua 450.000đ tiền cần sa. Trung đồng ý và hẹn người này đến đầu ngõ 217 Yên Hòa - Cầu Giấy để giao dịch, sau đó cả hai trao đổi số điện thoại liên lạc cho nhau. Đến khoảng 11h30' ngày 11/06/2022, T đang ở phòng trọ thì nhận được điện thoại gọi từ số 0344650218 của khách mua cần sa nói đã đến rồi (sau này tại cơ quan điều tra T mới biết là khách bảo mua ma túy là Lê Anh T1). Sau đó Trung lấy 01 túi cần sa cất vào trong túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi đi bộ ra đầu ngõ 217 Yên Hòa. Khi vừa gặp khách mua cần sa chưa kịp giao dịch thì bị lực lượng công an kiểm tra bắt quả tang. Tại Công an phường Yên Hòa, biết hành vi mua bán trái phép ma túy của mình là vi phạm pháp luật, T đã dẫn cơ quan Công an đến phòng trọ và tự nguyện giao nộp 01 túi cần sa còn lại và tiến hành khám xét nơi ăn ở không phát hiện thu giữ đồ vật tài sản gì liên quan đến vụ án.
Lời khai của Bùi Lê Anh T1 phù hợp với lời khai Trịnh Phúc T, phù hợp
với nội dung trên.
Xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của Trịnh Phúc T và Lê Anh T1 cho kết
quả dương tính với que thử.
Đối với chiếc điện thoại Iphone 8 thu giữ của Trịnh Phúc T, 01 điện thoại di
động Nokia 105 và 100.000 đồng thu giữ của Lê Anh T1, T và T1 khai nhận điện thoại dùng để liên lạc mua bán ma túy.
Đối với Lê Anh T1 là người đi mua ma túy để sử dụng nhưng chưa kịp mua
thì bị bắt nên không đủ căn cứ xử lý hình sự.
Đối tượng bán ma túy cho Trịnh Phúc T do Trung không biết tên tuổi địa
chỉ ở đâu nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác định.
Tại bản cáo trạng số 196/CT-VKSCG ngày 14/09/2022 của Viện kiểm sát
nhân dân quận Cầu Giấy đã truy tố bị cáo Trịnh Phúc T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy giữ
nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự;
Áp dụng: Điều 55; Điều 106; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng
hình sự; Luật án phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Phúc T từ 26 tháng đến 30 tháng tù.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì chứa thảo mộc khô; tịch thu
sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 8 màu đen và 01 điện thoại di động kiểu dáng Nokia 105 màu đen, và số tiền 100.000 đồng.
Bị cáo nhất trí với bản Cáo trạng và Quyết định truy tố của Viện kiểm sát
nhân dân quận Cầu Giấy. Bị cáo nhận thức và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ
đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Cầu
Giấy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai
nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định số 3873/KL-KLHS ngày 19/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 11/6/2022, tổ công tác Công an phường Yên Hòa làm nhiệm vụ tại khu vực đầu ngõ 217 Yên Hoà, phường Yên Hoà, quận Cầu Giấy, Hà Nội phát hiện bị cáo Trịnh Phúc T đã có hành vi tàng trữ 1,569 gam ma túy Cần sa, mục đích để bán cho Lê Anh T1 và khách nhằm kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị tổ công tác Công an phường Yên Hòa phát hiện và bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Trịnh Phúc T đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo
là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước ta, bị cáo là con nghiện nhận thức rất rõ về tác hại của ma tuý nó là chất gây nghiện và gây ra nhiều tội phạm khác, nên Nhà nước ta xử lý nghiêm đối với các loại tội phạm về ma tuý. Song bị cáo lại cố tình đi ngược lại với lợi ích xã hội, thực hiện hành vi bán ma túy nhằm kiếm lời bất chính. Hành vi phạm tội của bị cáo còn làm mất trật tự trị an trên địa bàn nơi xảy ra tội phạm, nên lần phạm tội này cần phải xử lý thật nghiêm khắc bắt bị cáo phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục ý thức chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình
truy tố, xét xử, hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Theo quy định của pháp luật, bị cáo mua bán trái phép chất ma túy ngoài
hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, là con nghiện nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng thu giữ của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì niêm
phong niêm phong bên trong có chứa cần sa; 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu đen và 01 điện thoại di động kiểu dáng Nokia màu đen đã qua sử dụng và số tiền 100.000 đồng thu giữ của anh Lê Anh T1 dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước theo Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm
và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ
luật hình sự năm 2015.
Áp dụng Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 337 Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Phúc T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Trịnh Phúc T – 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ
ngày 12/6/2022.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì niêm phong có
chữ ký của bị cáo và Giám định viên trên mép dán phòng bì niêm phong; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 8 màu đen bên trong có sim thu giữ của bị cáo và 01 điện thoại di động kiểu dáng Nokia 105 màu đen, bên trong có sim (đều không xác định được số sim và đã qua sử dụng) theo biên bản giao nhận vật chứng số 275 ngày 23/9/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy, tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 100.000 đồng thu giữ của anh Lê Anh T1 theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 06/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cầu Giấy.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản
án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án./.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - VKSND quận Cầu Giấy; - Công an quận Cầu Giấy; - Chi cục THADS quận Cầu Giấy; - Bị cáo; - Lưu HSVA, VPTA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Thị Huê |