- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 216/2022/HNGĐ-ST Ngày: 10/3/2022 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Hà. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thành Hưng; 2. Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành Công - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên toà: Bà Lường Thị Lan - Kiểm sát viên. Ngày 10 tháng 3 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12 xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 141/2021/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 2 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2022/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2021, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1990 – Có mặt. Địa chỉ: M2A-11.1, Chung cư L, số 8 đường T, phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Bị đơn: Ông Phạm Quang D, sinh năm 1981 – Có mặt. Địa chỉ: 621/24/8/7, tổ 42, khu phố 4, phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn ly hôn, bản tự khai, các biên bản hòa giải, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tại phiên tòa nguyên đơn bà Đỗ Thị T trình bày: Bà Đỗ Thị T và ông Phạm Quang D chung sống với nhau từ năm 2017. Có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện N, tỉnh Đ và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 13/2017, cấp ngày 02/02/2017. Khi về ở với nhau thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng thường xuyên gây gỗ, không tìm được tiếng nói chung. Dù nhiều lần cố gắng hàn gắn để đoàn tụ nhưng không thành. Nay nhận thấy không thể tiếp tục chung sống và hàn gắn được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn. Về con chung: Có 01 con chung Phạm Quang Tr sinh ngày 18/10/2016. Nếu được ly hôn bà T yêu cầu được nuôi con chung, không cần cấp dưỡng. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận. Về nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Không có. Tại bản tự khai ngày 17/02/2022 và tại phiên tòa bị đơn ông Phạm Quang D trình bày: Trong cuộc sống vợ chồng tuy có nhiều mâu thuẫn nhưng chỉ là do những chuyện nhỏ nhặt trong cuộc sống. Ông có nguyện vọng đoàn tụ để hàn gắn tình cảm vợ chồng cũng như giải quyết về tài sản chung nhưng do bà T cương quyết yêu cầu ly hôn nên ông đồng ý ly hôn. Về con chung: Có 01 con chung Phạm Quang Tr sinh ngày 18/10/2016. Sau khi ly hôn, ông đồng giao con chung cho bà T nuôi dưỡng, tạm thời chưa cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận. Về nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Không có. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 phát biểu ý kiến: Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 có ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng: đúng trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, Tòa án thụ lý vụ án từ ngày 05/02/20211 nhưng đến nay mới đưa ra xét xử là không đúng thời hạn theo quy đinh tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Tại phiên tòa hôm nay, bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn và ông D đồng ý ly hôn. Do đó, căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử công nhận bà T và ông D thuận tình ly hôn. Về con chung: Xét lợi ích mọi mặt của trẻ Phạm Quang Tr căn cứ khoản 2 Điều 81, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi Dỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con của ông Phạm Quang D do bà Đỗ Thị T chưa có yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà Đỗ Thị T xác định không có nên Tòa án không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Các đương sự tranh chấp với nhau về việc ly hôn. Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đang cư trú tại Quận 12 nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. [2]. Về nội dung tranh chấp: [2.1]. Về hôn nhân: Bà Đỗ Thị T và ông Phạm Quang D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Đ và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 13/2017, cấp ngày 02/02/2017, nên là hôn nhân hợp pháp. Kết quả xác minh tại Hội phụ nữ phường T, Quận 12 thể hiện: “Bà Đỗ Thị T và ông Phạm Quang D hiện không còn chung sống tại 621/24/8/7, tổ 42, khu phố 4, phường T, Quận 12. Hai ông bà có 01 con chung đang sống tại 59 đường N, Quận B. Mâu thuẫn trong gia đình không có báo chính quyền không biết.” Thời gian chung sống thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn nên bà T có đơn xin ly hôn ông D. Tại bản tự khai ngày 17/02/2022 và tại phiên tòa hôm nay ông D đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, bà T yêu cầu ly hôn và ông D đồng ý ly hôn nên căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 công nhận bà Đỗ Thị T và ông Phạm Quang D thuận tình ly hôn. [2.2]. Về con chung: Bà Đỗ Thị T và ông Phạm Quang D có 01 con chung tên Phạm Quang Tr sinh ngày 18/10/2016. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung Phạm Quang Tr và được ông D đồng ý. Trẻ Trường đang trong độ tuổi rất cần có sự quan tâm, trông nom, chăm sóc, nuôi Dỡng, giáo dục. Việc giao con cho ai nuôi Dỡng cần phải xem xét mọi mặt và đảm bảo quyền lợi của con. Vì vậy, để đảm bảo sự ổn định nơi ăn ở, học hành, sự ổn định về tinh thần, sức khỏe của trẻ và hiện này trẻ lại đang ở với mẹ. Hội đồng xét xử nhận thấy cần giao trẻ Tr cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con của ông Phạm Quang D do bà Đỗ Thị T chưa có yêu cầu. [2.3]. Về tài sản chung: Bà Đỗ Thị T và ông Phạm Quang D tự thỏa thuận nên Tòa án không xem xét. [2.4]. Về nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà Đỗ Thị T và ông Phạm Quang D xác định không có nên Tòa án không giải quyết. [3]. Về án phí: Yêu cầu của bà T được chấp nhận, nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn. [4]. Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 51; Điều 53; Điều 54; Điều 56; Điều 57; Điều 58 và khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. 1.1. Về hôn nhân: Bà Đỗ Thị T và ông Phạm Quang D thuận tình ly hôn. Kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật, giấy chứng nhận kết hôn số 13/2017 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Đ cấp ngày 02/02/2017 không còn giá trị pháp luật. 1.2. Về con chung: Bà Đỗ Thị T và ông Phạm Quang D có có 01 con chung tên Phạm Quang Tr sinh ngày 18/10/2016. Giao con chung Phạm Quang Tr cho bà Đỗ Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con của ông Phạm Quang D do bà Đỗ Thị T chưa có yêu cầu. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi Dỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp Dỡng cho con. 1.3. Về tài sản chung: Bà Đỗ Thị T và ông Phạm Quang D tự thỏa thuận nên Tòa án không xem xét. 1.4. Về nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà Đỗ Thị T và ông Phạm Quang D xác định không có nên Tòa án không giải quyết. 2. Về án phí: Bà Đỗ Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0106076 ngày 05 tháng 02 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Đỗ Thị T đã nộp đủ án phí. 3. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, bổ sung năm 2014. 4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -VKSND Quận 12; -Chi cục THADS Quận 12; -Các đương sự; -Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Minh Hà |