vanban.org

Bản án 216/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Ngọc Tường V đối với ông Nguyễn Trọng N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Căn c các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 216/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 09/8/2022.
V/v tranh chấp “Ly hôn, về nuôi
con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Ly;

2. Bà Phạm Xuân Đào.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hồng Duyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Vện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi, Kiểm sát Vên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 516/2022/TLST-HNGĐ, ngày 31 tháng 5 năm 2022 về Vệc tranh chấp “Ly hôn, về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 368/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 06 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn Bà Võ Ngọc Tường V, sinh năm 1993; địa chỉ: số 52, tổ 3, ấp L, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (Có mặt);

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Trọng N, sinh năm 1994; địa chỉ: số nhà 49, tổ 02, ấp L, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai và các biên bản hòa giải nguyên đơn bà Võ Ngọc Tường V trình bày: Bà và ông Nguyễn Trọng N cưới nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã K, hôn nhân do tự tìm hiểu và đươc cha m đồng ý. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thu n, nguyên nhân là do chồng cờ bạc, không làm phụ giúp vợ con, vợ chồng thường xuyên cãi nhau nên vợ chồng không còn chung sống t tháng 04/2022 cho đến nay. Thấy tình cảm không còn bà xin ly hôn với ông Nguyễn Trọng N; Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Bảo Ng, sinh ngày 07/12/2015 và Nguyễn Trác H, sinh ngày 03/01/2017, hiện 02 con chung đang sống với bà V. Khi ly hôn bà V yêu cầu tiếp tục nuôi 02 con, không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con; Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về quan hệ nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa bà Võ Ngọc Tường V giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn ông Nguyễn Trọng N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra Vệc giao nộp, tiếp cận công khai ch ng c và hòa giải, nhưng ông N v n vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không hòa giải được.

Đại diện Vện kiểm sát phát biểu quan điểm về Vệc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký và Vệc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Về ý kiến giải quyết: Về hôn nhân: Bà Võ Ngọc Tường V và ông Nguyễn Trọng N do quen biết, tìm hiểu nhau và đi đến hôn nhân năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K ngày 25/5/2015 là hôn nhân hợp pháp được pháp luật th a nhận và bảo vệ. Vợ chồng chung sống đến năm 2022 năm thì phát sinh mâu thu n do ông N thường xuyên cờ bạc, không quan tâm gia đình vợ con, vợ chồng đã ly thân t 4/2022 đến nay. Nhận thấy, tình cảm không còn nên bà V yêu cầu ly hôn với ông N.

Xét thấy, mâu thu n vợ chồng xuất phát t Vệc ông N không quan tâm gia đình vợ con, thời gian vợ chồng mâu thu n đã lâu nhưng cả hai không tạo điều kiện hàn gắn. Ông N không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà V và bà V xác định không còn tình cảm và kiên quyết ly hôn nên căn c Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà V đối với ông N.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Bảo Ng, sinh ngày 07/12/2015 và Nguyễn Trác H, sinh ngày 03/01/2017, hiện 02 con chung đang sống cùng bà V. Khi ly hôn, bà V yêu cầu nuôi 02 cháu Ng và H, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy, cháu Ng có nguyện vọng sống cùng bà V và cả 02 cháu Ng và H đang được bà V chăm sóc phát triển tốt về thể chất và tinh thần nghĩ nên cần ổn định cuộc sống cho 02 cháu Ng, H, tiếp tục để bà V chăm sóc, nuôi dưỡng. Do bà V không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập đến.

+ Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về nợ chung: Không có.

T những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn c Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình:

- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Võ Ngọc Tường V đối với ông Nguyễn Trọng N.

- Bà Võ Ngọc Tường V được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Bảo Ng, sinh ngày 07/12/2015 và Nguyễn Trác H, sinh ngày 03/01/2017. Ông Nguyễn Trọng N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi Ngên c u các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn c vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Võ Ngọc Tường V yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Trọng N, ông N có nơi cư trú tại ấp L, xã K, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn ông Nguyễn Trọng N được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần th 2 để tham gia phiên tòa, nhưng vắng mặt không lý do. Căn c vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông N là có căn c .

Bà Võ Ngọc Tường V yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Trọng N. Bà V và ông N có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật th a nhận và bảo vệ. Theo bà V trình bày, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thu n, nguyên nhân do chồng cờ bạc, không làm phụ giúp vợ con, vợ chồng thường xuyên cãi nhau nên vợ chồng không còn chung sống t tháng 04/2022 cho đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về Vệc bà V yêu cầu ly hôn và triệu tập ông N tham gia các phiên họp về kiểm tra Vệc giao nộp, tiếp cận công khai ch ng c , hòa giải và tham gia phiên tòa, nhưng ông N v n vắng mặt và không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà V. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thu n giữa bà V và ông N đã diễn ra trong thời gian dài, hai bên c ng không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu chung sống với nhau c ng không hạnh phúc. Căn c Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà V là phù hợp.

Về quan hệ con chung: Bà V xác định, vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Bảo Ng, sinh ngày 07/12/2015 và Nguyễn Trác H, sinh ngày 03/01/2017, hiện 02 con chung đang sống với bà V. Khi ly hôn, bà V yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, t khi vợ chồng không còn sống chung với nhau, con chung do bà V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên tâm tư tình cảm của cháu gắn liền với người nuôi dưỡng và trong quá trình giải quyết ông N c ng không có ý kiến phản đối yêu cầu này của bà V. Bên cạnh đó, cháu Bảo Ng c ng có nguyện vọng được sống cùng m . Do đó, để bà V tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là phù hợp với pháp luật và nguyện vọng của cháu.

Đối với cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà V không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Về quan hệ tài sản chung: Bà V không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về quan hệ nợ chung: Bà V trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Án phí hôn nhân sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn c các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Ngọc Tường V đối với ông Nguyễn Trọng N.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Ngọc Tường V được ly hôn với ông Nguyễn Trọng N.

Giấy ch ng nhận kết hôn số 61/2015, ngày 21 tháng 5 năm 2015 do Ủy ban nhân dân xã K, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp cho bà Võ Ngọc Tường V và ông Nguyễn Trọng N không còn giá trị pháp lý.

- Về quan hệ con chung: Bà Võ Ngọc Tường V được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Bảo Ng, sinh ngày 07/12/2015 và Nguyễn Trác H, sinh ngày 03/01/2017. Ông Nguyễn Trọng N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Võ Ngọc Tường V cùng các thành Vên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Trọng Ng trong Vệc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi m c cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn c do pháp luật quy định.

- Về quan hệ tài sản chung: Không có.

- Về quan hệ nợ chung: Không có. Ghi nhận Vệc bà Võ Ngọc Tường V xác định không có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi kiện xuất trình ch ng c ch ng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì bà Võ Ngọc Tường V và ông Nguyễn Trọng N phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Võ Ngọc Tường V phải chịu, nhưng được khấu tr vào số tiền tạm ng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0004692 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 31 tháng 5 năm 2022. Bà V đã nộp đủ án phí.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể t ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính t ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ