vanban.org

Bản án 216/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 23/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/7/2021. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a và c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy tang vật gồm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D bị truy tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 216/2021/HS-ST
Ngày: 23 - 11 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Dương Hải Long

+ Bà Mai Lương Anh

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Thanh Tài - Thư ký Toà án nhân dân thành

phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 11 năm 2021, tại Hội trường Tổ dân phố 16, Phường 4, Thành phố Đà Lạt, Tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 233/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 243/2021/QĐXXST - HS ngày 08/11/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn D, sinh năm: 1973, tại: Nam Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Số M đường N, Phường S, Thành phố Đ, Tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: 0/12; nghề nghiệp: Chạy xe thồ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm: 1947 (chết) và bà: Phạm Thị Q, sinh năm: 1951; vợ: Đỗ Thị N1, sinh năm: 1974; có 02 con, lớn nhất sinh năm:1994, nhỏ nhất sinh năm: 1997; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án,tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05/7/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đà Lạt.

- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1961

Địa chỉ: Số H đường Y, Phường S, Thành phố Đ, Tỉnh Lâm Đồng.

(Bị cáo có mặt; người chứng kiến vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn D sử dụng Heroine từ năm 1997, D thường mua Heroin của một người tên Tuấn (không rõ nhân thân, lai lịch) để sử dụng. Sáng ngày 05/7/2021, D đi đến khu vực Thác Voi, thị trấn Nam Ban, Lâm Hà gặp và mua của Tuấn 01 gói Heroin với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được Heroin, D mang về nhà tại Số M đường N, Phường S, Thành phố Đ, Tỉnh Lâm Đồng cất giấu để sử dụng dần. Đến 12 giờ cùng ngày, Công an phường 6, Thành phố Đà Lạt đến nhà D để rà soát các trường hợp chưa làm căn cước công dân thì phát hiện trong túi áo khoác của D đang để trên ghế sofa tại phòng khách lộ ra 03 bịch nylon bên trong có 03 ống kim tiêm, tại đây D đã thừa nhận đây là số kim tiêm D dùng để sử dụng Heroin và tự giác khai nhận bản thân còn cất giấu ở phòng khách 01 gói Heroin mua của Tuấn vào ngày 5/7/2021 với giá 500.000 đồng tại vị trí trên mép phía dưới của tủ gỗ và 01 gói Heroin mua của Tuấn vào ngày 25/6/2021 với giá 100.000 đồng tại tủ đựng giày để sử dụng dần. Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong tang vật theo quy định (BL: 34-37; 51-74).

T ng ậ hu gi :

- 01 gói nyon màu trắng trong, bên trong có 01 gói giấy bạc, bên trong mảnh giấy bạc có chất bột màu trắng nghi là ma túy.

- 01 gói giấy bạc bên trong có 01 tép nhựa màu trắng, được hàn kín 2 đầu, bên trong có chứa chất bột nghi là ma túy.

- 03 ống kim tiêm, có nắp màu đỏ, dài khoảng 10cm, đựng trong 3 bịch có 01 mặt là nylon trắng trong, mặt còn lại có chữ B-BRAUN (BL: 38).

Tại bản kết luận giám định số 891/GĐ - PC09 ngày 09/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận:

- Phong bì 01: Mẫu cục bột được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,5234 gam, loại Heroine.

- Phong bì 02: Mẫu cục bột được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,0575gam, loại Heroine.

Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT: 09 - Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ (BL: 33)

Tại bản cáo trạng số 234/CT-VKS ngày 27/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn D khai nhận, bản thân bị cáo có sử dụng Heroin. Khoảng 12 giờ ngày 05/7/2021, tại Số M đường N, Phường S, Thành phố Đ, Tỉnh Lâm Đồng , D bị Công an Phường 6, Thành phố Đà Lạt đã kiểm tra và phát hiện D cất giữ trong túi áo khoác của D 01 gói ma túy ở phòng khách và 01 gói ma túy giấu tại tủ đựng giày để sử dụng dần như cáo trạng truy tố là hoàn toàn chính xác và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là tang vật của vụ án đã qua giám định; tịch thu tiêu hủy 03 ống kim tiêm là dụng cụ sử dụng ma.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn D: Nguyễn Văn D là đối tượng sử dụng chất ma túy loại heroine. Để có ma túy sử dụng, D mua của một người tên Tuấn (không rõ nhân thân, lai lịch) 02 gói Heroin với giá 500.000 đồng mang về nhà tại Số M đường N, Phường S, Thành phố Đ, Tỉnh Lâm Đồng cất giấu để sử dụng dần. Đến 12 giờ, ngày 05/7/2021, khi D đang ở nhà thì bị cơ quan Công an kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang trong túi áo khoác của D đang để trên ghế sofa tại phòng khách lộ ra 03 bịch nylon bên trong có 03 ống kim tiêm, D đã thừa nhận đây là số kim tiêm D dùng để sử dụng Heroin và tự giác khai nhận bản thân còn cất giấu ở phòng khách 01 gói Heroin mua của Tuấn vào ngày 5/7/2021 với giá 500.000 đồng tại vị trí trên mép phía dưới của tủ gỗ và 01 gói Heroin mua của Tuấn vào ngày 25/6/2021 với giá 100.000 đồng tại tủ đựng giày để sử dụng dần.

Tại bản kết luận giám định số 891/GĐ - PC09 ngày 09/7/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Mẫu cục bột được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,5809 gam (không phẩy năm tám không chín gam), loại Heroine.

Xét thấy, bị cáo Nguyễn Văn D người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và là đối tượng sử dụng ma túy loại Heroine. Bị cáo biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, nhưng là đối tượng nghiện ma túy và để có ma túy sử dụng, bị cáo vẫn thực hiện nhằm thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân. Hành vi của Nguyễn Văn D không chỉ vi phạm pháp luật về chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương mà còn là một trong những nguyên nhân góp phần gây ra những tệ nạn xã hội khác. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa; lời khai của bị cáo, của người kiến trong quá trình điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận hành vi của Nguyễn Văn D phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như cáo trạng số 234/CT-VKS ngày 27/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng truy tố và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ: Do bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình; khi bị phát hiện sử dụng ma túy, bị cáo tự giác khai báo nơi cất giữ ma túy, nên áp dụng điểm s khoản 1và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là phù hợp.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Lạt chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng tên “Tuấn” đã bán ma túy cho D, nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Điều tra đã thu giữ tang vật gồm: 01(một) gói nylon màu trắng trong, bên trong có 01 (một) gói giấy bạc, bên trong mảnh giấy bạc có chất bột màu trắng và 01 gói giấy bạc bên trong có 01 tép nhựa màu trắng, được hàn kín 2 đầu, bên trong có chứa chất bột màu trắng. Qua giám định xác định là ma túy, loại heroine, xét thấy là chất cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Thu giữ 03 ống kim tiêm, có nắp màu đỏ, dài khoảng 10cm, đựng trong 3 bịch có 01 mặt là nylon trắng trong, mặt còn lại có chữ B-BRAUN, bị cáo khai nhận dùng để sử dụng ma túy, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/7/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a và c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy tang vật gồm:

- 01(một) phong bì niêm phong số: 891/2021-PC09. Mặt trước phong bì ghi vụ Nguyễn Văn D - 1973. NCT: 12/4A Nguyễn An Ninh, Phường 6, TP Đà Lạt. QĐTC: 295QĐ-ĐCSMT/CSĐT; 06/7/2021. Bao gói. Mặt sau có chữ ký, họ tên của Nguyễn Văn Chiến; Trần Đình Huy và Võ Như Thuật; đóng dấu niêm phong tròn, đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Tỉnh Lâm Đồng.

- 01(một) phong bì niêm phong số: 891/2021-PC09. Mặt trước phong bì ghi vụ Nguyễn Văn D - 1973. NCT: 12/4A Nguyễn An Ninh, Phường 6, TP Đà Lạt. QĐTC: 295QĐ-ĐCSMT/CSĐT; 06/7/2021. Hoàn mẫu M1: 0,3536 (g). Mặt sau có chữ ký, họ tên của Nguyễn Văn Chiến; Trần Đình Huy và Võ Như Thuật; đóng dấu niêm phong tròn, đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Tỉnh Lâm Đồng.

- 03 (ba) ống kim tiêm, có nắp màu đỏ, dài khoảng 10cm, đựng trong 3 bịch có 01 mặt là nylon trắng trong, mặt còn lại có chữ B-BRAUN

(Theo biên bản giao, nhận tang vật ngày 27/10/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Lạt và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm./.

Cỡ chữ