vanban.org

Bản án 216/2018/HSST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 16/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T (tên gọi khác: TA) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn Hùng Bảo K (tên gọi khác: U) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp chung hình phạt buộc bị cáo phải ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T và Huỳnh Tấn Hùng Bảo K - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T (tên gọi khác: TA) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 216/2018/HSST
Ngày 16-8-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Minh Hiếu.

2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 157/2018/TLST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2018 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 215/2018/HSST-QĐ ngày 02 tháng 8 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thanh T (tên gọi khác: TA), sinh năm 1989 tại tỉnh Bình Dƣơng; thƣờng trú: Số 36/13, khu phố T, phƣờng Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 6/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Thanh D, sinh năm 1968 và bà Phạm Thị Kim L, sinh năm 1968; vợ tên Trần Lê Vinh S, sinh năm 1993 (đã ly hôn); có 01 con, sinh năm 2013; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 20/7/2017 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phƣờng Đ áp dụng biện pháp giáo dục tại phƣờng thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bắt tạm giam ngày 13/12/2017, có mặt.

2. Huỳnh Tấn Hùng Bảo K (tên gọi khác: U), sinh năm 1983 tại tỉnh Bình Dƣơng; thƣờng trú: Số 271B, khu phố B, phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: Lớp 02/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1940 và bà Võ Thanh T, sinh năm 1942; vợ tên Trần Thị H, sinh năm 1983; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 28/02/2017 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phƣờng B áp dụng biện pháp giáo dục tại phƣờng thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 01/11/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã D áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 16 tháng; bị bắt tạm giam ngày 13/12/2017, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Anh Nguyễn Sơn T, sinh năm 1992; địa chỉ: Khu phố N, phƣờng B, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

2/ Chị Lƣu Thị T; địa chỉ: Nhà nghỉ N, khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

3/ Anh Điền Văn B, sinh năm 1973; địa chỉ: Ấp 1, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

1 Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1994; địa chỉ: Số 2/171 khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

2. Anh Lê Văn D, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Nguyễn Thanh T và Huỳnh Tấn Hùng Bảo K là bạn quen biết và đều là đối tƣợng sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 11/12/2017, K nhờ T mua giúp 2.000.000 đồng ma túy. Nguyễn Thanh T sử dụng xe mô tô biển số 60F7-1299 đến khu vực ký túc xá Trƣờng Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh gặp T1 (chƣa rõ nhân thân) mua 01 gói nilon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng, mang về phòng số 6 nhà nghỉ N nơi K thuê để ở, thuộc khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng giao lại cho K. Tại đây, cả hai sử dụng chung và K lấy 01 ít cho T để sử dụng. T phân nhỏ số ma túy K cho thành 03 gói nilon hàn kín để bán lại cho ngƣời nghiện ma túy khác. Hình thức bán ma túy, T sử dụng điện thoại di động Nokia màu trắng bạc, sim số 0987310510, khi ngƣời nghiện ma túy có nhu cầu mua thì gọi vào số điện thoại trên và hẹn địa điểm giao ma túy. Khoảng 09 giờ 40 phút ngày 13/12/2017, Nguyễn Sơn T gọi điện thoại hỏi mua 01 gói ma túy, giá 500.000 đồng nhƣng chƣa có tiền nên xin nợ lại và T hẹn T tại khu vực trƣớc nghĩa trang Triều Châu ở khu phố T, phƣờng T. Khi cả hai vừa giao ma túy xong, ngồi lên xe máy điều khiển đi thì bị đội tuần tra Công an phƣờng T bắt quả tang, thu giữ 01 gói nilon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng trong tay của T và thu giữ 02 gói nilon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng trong khẩu trang y tế của T đang đeo.

Quá trình điều tra xác định đƣợc: Ngoài lần bán 01 gói nilon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng vào ngày 13/12/2017 cho Nguyễn Sơn T; Nguyễn Thanh T còn bán cho T 01 gói nilon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng vào ngày 10/12/2017, giá 200.000 đồng tại nhà của T ở khu phố T, phƣờng T.

Ngày 13/12/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D khám xét nơi ở của Nguyễn Thanh T thu giữ 02 cây kéo bằng inox, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; khám xét phòng số 6 Nhà nghỉ N nơi Huỳnh Tấn Hùng Bảo K thuê, thu giữ 01 gói nilon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, 02 cây kéo bằng inox và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.

Vật chứng: 01 gói nilon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Sơn T; 02 gói nilon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng, 02 cây kéo bằng inox, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 điện thoại di động Nokia màu trắng bạc sim số 0987310510 và 01 xe mô tô Dream biển số 60F7-1299 thu giữ của Nguyễn Thanh T; 01 gói nilon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, 02 cây kéo bằng inox và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá thu giữ của Huỳnh Tấn Hùng Bảo K.

Căn cứ Kết luận giám định số 568/MT-PC54 ngày 15/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng: Tinh thể màu trắng trong 01 gói nilon hàn kín thu giữ của Nguyễn Sơn T là ma túy, có trọng lƣợng 0,2878 gam, loại Methamphetamine (mẫu vật sau giám định 0,1337gam); tinh thể màu trắng trong 02 gói nilon hàn kín thu giữ của Nguyễn Thanh T là ma túy có trọng lƣợng 0,2757 gam, loại Methamphetamine (mẫu vật sau giám định 0,1597gam); tinh thể màu trắng trong 01 gói nilon miệng kéo dính thu giữ của Huỳnh Tấn Hùng Bảo K là ma túy có trọng lƣợng 5,6447 gam, loại Methamphetamine (mẫu vật sau giám định 5,2184gam).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Dƣơng.

Tại Cáo trạng số 174/CT-VKS ngày 07 tháng 6 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 và khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009; truy tố bị cáo Huỳnh Tấn Hùng Bảo K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm b, khoản 2 Điều 194; điểm p, khoản 1 Điều 46; Điều 50 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp chung hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành là 09 năm 06 tháng đến 10 năm 06 tháng tù. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn Hùng Bảo K từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Xử lý vật chứng:

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bì thƣ đƣợc niêm phong có chứa Methamphetamine, trọng lƣợng sau giám định là 0,1337gam, 0,1597gam và 5,2184gam;

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 04 cây kéo bằng inox và sim số 0987310510;

- Đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nƣớc điện thoại di động Nokia màu trắng bạc số IMEI 357318084946651.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội; trong phần nói lời sau cùng, bị cáo Nguyễn Thanh T xin đƣợc Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và ngƣời làm chứng cũng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Ngày 11/12/2017, Huỳnh Tấn Hùng Bảo K nhờ Nguyễn Thanh T mua giúp 2.000.000 đồng ma túy. Nguyễn Thanh T sử dụng xe mô tô biển số 60F7-1299 đến khu vực ký túc xá Trƣờng Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh gặp T1 (chƣa rõ nhân thân) mua 01 gói nilon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng, mang về phòng số 6 nhà nghỉ N nơi K thuê để ở, thuộc khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng giao lại cho K. Tại đây, cả hai sử dụng chung và K lấy 01 ít cho T để sử dụng. T phân nhỏ số ma túy K cho thành 03 gói nilon hàn kín để bán lại cho ngƣời nghiện ma túy khác. Ngày 10/12/2017, T bán cho Nguyễn Sơn T 01 gói nilon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng, giá 200.000 đồng. Khoảng 09 giờ 40 phút ngày 13/12/2017, T tiếp tục bán cho T 01 gói ma túy tại khu vực trƣớc nghĩa trang T ở khu phố T, phƣờng T thì bị bắt quả tang.

Theo quy định tại Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009.

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

......

b) Phạm tội nhiều lần;

Hành vi của bị cáo Huỳnh Tấn Hùng Bảo K nhờ T mua ma túy để tàng trữ nhằm mục đích sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009; hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh T đã 02 lần bán ma túy loại Methamphetamine cho Nguyễn Sơn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “phạm tội nhiều lần” theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009. Cáo trạng số 174/CT-VKS ngày 07 tháng 6 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo Nguyễn Thanh T thực hiện là rất nghiêm trọng, tội phạm do bị cáo Huỳnh Tấn Hùng Bảo K thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nƣớc về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Các bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc mua bán, sử dụng trái phép ma túy sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến sức khỏe ngƣời sử dụng, ma túy là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án tù tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

Đối với tội tàng trữ trái phép chất ma túy có đồng phạm, nhƣng là đồng phạm giản đơn: Bị cáo Huỳnh Tấn Hùng Bảo K là ngƣời đề xuất, nhờ Tâm đi mua ma túy; T là đồng phạm giúp sức đƣợc K trả công bằng cách cho ma túy để sử dụng.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2009, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Về nhân thân: Các bị cáo đều là ngƣời nghiện ma túy; bị cáo Nguyễn Thanh T có 01 tiền sự, ngày 20/7/2017 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phƣờng Đ áp dụng biện pháp giáo dục tại phƣờng thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo Huỳnh Tấn Hùng Bảo K có 02 tiền sự: Ngày 28/02/2017 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phƣờng B áp dụng biện pháp giáo dục tại phƣờng thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và ngày 01/11/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã D áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 16 tháng.

Xử lý vật chứng:

- Xét 01 bì thƣ đƣợc niêm phong có chứa Methamphetamine, trọng lƣợng sau giám định là 0,1337gam; 0,1597gam và 5,2184gam là vật cấm lƣu thông cần tịch thu tiêu hủy;

- Xét sim số 0987310510, 04 cây kéo bằng inox và 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá là vật chứng liên quan đến vụ án và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

- Xét 01 điện thoại di động Nokia màu trắng bạc số IMEI 357318084946651 thu giữ của bị cáo Nguyễn Thanh T, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nƣớc.

- Xét xe mô tô Dream biển số 60F7-1299 (không có bửng, không kính chiếu hậu, không có chắn sên) thu giữ của bị cáo là do anh Điền Văn B đứng tên chủ sở hữu. Anh B xác nhận đã bán lại cho ngƣời đàn ông tên T (không rõ nhân thân) nhƣng chƣa làm thủ tục sang tên và không còn quyền lợi gì; bị cáo khai mƣợn của bạn tên V (không rõ nhân thân). Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã đăng báo truy tìm chủ sở hữu nhƣng không có ngƣời đến nhận nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nƣớc.

Đối với T1 là ngƣời bán ma túy cho T, hiện không xác định đƣợc nhân thân, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Đối với chị Lƣu Thị T là quản lý Nhà nghỉ N không biết bị cáo Huỳnh Tấn Hùng Bảo K tàng trữ trái phép chất ma túy trong phòng số 6 nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An không xử lý. Đối với Nguyễn Sơn T mua ma túy của Tâm nhƣng không đủ định lƣợng nên không đề nghị truy tố.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”. Xét các bị cáo đều là ngƣời nghiện ma túy, công việc không ổn định, thu nhập thấp nên Hội đồng xét xử quyết định không phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về mức hình phạt, xử lý vật chứng nhƣ đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.

Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T (tên gọi khác: TA) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn Hùng Bảo K (tên gọi khác: U) phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm b, khoản 2 Điều 194; điểm p, khoản 1 Điều 46; Điều 53; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp chung hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành là 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/12/2017.

- Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p, khoản 1 Điều 46; Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn Hùng Bảo K 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/12/2017.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bì thƣ đƣợc niêm phong có chứa Methamphetamine, trọng lƣợng sau giám định là 0,1337gam; 0,1597gam và 5,2184gam; sim số 0987310510, 04 cây kéo bằng inox và 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nƣớc điện thoại di động Nokia màu trắng bạc số IMEI 357318084946651 và xe mô tô Dream biển số 60F7-1299 (không có bửng, không kính chiếu hậu, không có chắn sên).

(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/5/2018).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Thanh T và Huỳnh Tấn Hùng Bảo K, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ