- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Trúc G cùng đồng phạm - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Trúc G (tên gọi khác: Cu k), Vũ Hoàng Quốc V phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 216 /2017/HSST Ngày 25- 8- 2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Ngọc
2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Trần Trọng An, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở văn phòng khu phố N1, phƣờng A, thị xã K, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm lƣu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 208/2017/HSST ngày 21 tháng 7 năm 2017, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 223/2017/HSST-QĐ ngày 10/8/2017 đối với các bị cáo:
1.Huỳnh Trúc G (tên gọi khác: Cu k ), sinh năm 1992 tại tỉnh Bình Dƣơng; thƣờng trú: Khu phố A, phƣờng H, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Huỳnh Văn S (đã chết) và con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1967; bị cáo có 02 chị em ruột, lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1995; tiền án, tiền sự: Không; bị b t tạm giam ngày 05/01/2017, có m t.
2.Vũ Hoàng Quốc V, sinh năm 1990 tại tỉnh Hậu Giang; thƣờng trú: Khu phố 5, phƣờng B, Thành phố H, tỉnh Đồng Nai; tạm trú: Khu phố T, phƣờng H, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Vũ Văn A, sinh năm 1959 và con bà Đ ng Thị C, sinh năm 1964; bị cáo có 02 anh ruột, lớn sinh năm 1984, nhỏ sinh năm 1989; tiền án, tiền sự: Không; bị b t tạm giam ngày 05/01/2017, có m t.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phan Thị Kim L, sinh năm: 1974; thƣờng trú: Khu phố A, phƣờng H, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng, v ng m t.
Người làm chứng:
1. Huỳnh Thanh B, sinh năm: 1994; thƣờng trú: Khu phố P2, phƣờng B, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng, v ng m t.
2. Nguyễn Minh T, sinh năm: 1989; thƣờng trú: Khu phố T, phƣờng H, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng, v ng m t.
3. Trần Minh H, sinh năm: 1990; thƣờng trú: Khu phố A, phƣờng H, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng, v ng m t.
4. Nguyễn Tấn Đ, sinh năm: 1995; thƣờng trú: Khu phố A, phƣờng H, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng, v ng m t.
5. Võ Hồng Hà, sinh năm: 1989; thƣờng trú: Khu phố L1, phƣờng A, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng, v ng m t.
6. Cao Thanh T, sinh năm: 1997; thƣờng trú: Đƣờng số 4, khu phố 1, phƣờng B, quận Đ, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Khu phố A, phƣờng H, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng, v ng m t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm t t nhƣ sau:
Vũ Hoàng Quốc V, Huỳnh Trúc G là bạn và cùng sử dụng ma túy, V mua ma túy về sử dụng sau đó bán cho G, G sử dụng một phần, phần còn lại bán cho ngƣời nghiện.
Bị cáo Vũ Hoàng Quốc V sử dụng trái phép chất ma túy (Methamphetamine) từ tháng 4/2016, cuối năm 2016 V mua ma túy của ngƣời tên T1 (không rõ nhân thân) ở khu vực chùa Cao Đài thuộc phƣờng X, quận Đ, Thành phố Hồ Chí Minh về sử dụng và bán lại cho ngƣời nghiện. Cách thức bán ngƣời nghiện điện thoại cho V theo số điện thoại 0978.945.324, V hẹn địa điểm giao nhận và mang ma túy đến.
Từ ngày 01/01/2017 đến ngày 04/01/2017, bị cáo V bán ma túy cho bị cáo G 3 lần mỗi lần bán với giá tiền từ 500.000đồng đến 1.500.000đồng.
Ngoài ra bị cáo V còn sử dụng chung ma túy với Nguyễn Minh T và Võ Hồng H khoảng 15 lần, mỗi lần sử dụng chung ma túy T và H phải trả cho V từ 50.000đồng đến 100.000đồng.
Vào lúc 16 giờ 45 ngày 05/01/2017, bị cáo V điều khiển xe mô tô biển số 55P3 - 2739 lƣu thông tại khu vực Gò Mả địa chỉ phƣờng H, thị xã K lực lƣợng Công an tỉnh Bình Dƣơng kiểm tra hành chính lập biên bản b t giữ ngƣời phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ từ bị cáo V: 01 gói nylong hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu tr ng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 55P3-2739; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu tr ng, 8.000.000đồng và 01 xe mô tô biển số 55P3 – 2739.
Bị cáo Huỳnh Trúc G sử dụng trái phép chất ma túy (Methamphetamine) từ năm 2016, khoảng tháng 7/2016, G mua ma túy của ngƣời tên U (không rõ nhân thân) ở khu vực đƣờng ray xe lửa thuộc phƣờng A, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng và mua ma túy của Vũ Hoàng Quốc V, về sử dụng và bán cho số ngƣời nghiện, mỗi lần G mua từ U và V từ 500.000đồng đến 1.500.000đồng, cách thức bán số ngƣời nghiện điện thoại cho G theo số 093.662.6002 ho c đến chỗ G ở để mua.
+ Khoảng 22 giờ ngày 15/12/2016, Nguyễn Minh T điện thoại cho G hỏi mua 01 liều ma túy, G mang ma túy cho T và sử dụng chung với T, sau đó T trả cho G 50.000đồng.
+ Ngày 25/12/2016, Trần Minh H điện thoại cho G hỏi mua 01 liều ma túy, G mang ma túy cho H và sử dụng chung với H, sau đó H trả cho G 50.000đồng.
+ Ngày 30/12/2016, bị cáo G mang ma túy bán cho Nguyễn Minh T và Trần Minh H, sau đó G cùng T, H sử dụng và đƣợc T, H trả 50.000đồng.
+ Ngày 01/01/2017, bị cáo G mang ma túy bán cho Trần Minh H, sau đó G và H sử dụng chung ma túy, H trả cho G 50.000đồng.
+ Ngày 02 và 03/01/2017, bị cáo G bán cho Huỳnh Thanh B 02 lần, mỗi lần 01 liều ma túy với số tiền mỗi liều 200.000đồng.
+ Ngày 02 và 04/01/2017, bị cáo G bán cho Nguyễn Tấn Đ 02 lần, lần đầu một liều ma túy với giá 200.000đồng, lần thứ hai 01 liều ma túy với giá 500.000đồng.
+ Vào các ngày 02, 03, 04 và 0 giờ ngày 05/01/2017 bị cáo G bán cho Cao Thanh T 04 lần mỗi lần 01 liều ma túy với giá tiền từ 200.000đồng đến 500.000đồng.
+Vào lúc 13 giờ 30 ngày 05/01/2017, bị cáo G bán cho Huỳnh Thanh B 02 liều ma túy với giá 200.000đồng, vào lúc 14 giờ 05 phút cùng ngày khi B điều khiển xe mô tô biển số 61D1- 545.85 lƣu thông gần khu vực trạm thu phí Bình Thung địa chỉ khu phố T, phƣờng H, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng lực lƣợng Công an tỉnh Bình Dƣơng lập biên bản b t ngƣời phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ từ Huỳnh Thanh B: 02 bịch nylong hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu tr ng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5S màu tr ng có sim số 01647026633; 01 xe mô tô hiệu Sirius màu đỏ đen, biển số 61D1-545.85.
Cơ quan Công an khám xét chỗ ở Huỳnh Trúc G thu giữ: 01 gói nylong màu tr ng đƣợc hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất tinh thể màu tr ng; 01 xe mô tô honda 67 màu đen biển số 60EF - 6987; 01 xe mô tô nhãn hiệu Novo Yamaha màu tr ng biển số 61D1- 162.34; 01 điện thoại Lenovo màu tr ng sử dụng sim số 093.662.6002.
Kết luận giám định số 17/MT - PC54 ngày 10/01/2017 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận mẫu tinh thể giám định trong bì thƣ niêm phong thu giữ của Huỳnh Thanh B có Methamphetamine trọng lƣợng 0,1411gam, hàm lƣợng Methamphetamine 68,93% tƣơng đƣơng 0,0973gam.
Kết luận giám định số 16/MT -PC54 ngày 12/01/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận mẫu tinh thể giám định trong bì thƣ niêm phong thu giữ của Huỳnh Trúc G có Methamphetamine trọng lƣợng 0,0602gam, hàm lƣợng Methamphetamine 72,15% tƣơng đƣơng 0,0434gam.
Kết luận giám định số 18/MT -PC54 ngày 13/01/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận mẫu tinh thể giám định trong bì thƣ niêm phong thu giữ của Vũ Hoàng Quốc V có trọng lƣợng Methamphetamine 0,0656 gam, không đủ Methamphetamine để giám định hàm lƣợng.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT 67, Nghị định 82 ngày 19/7/2013 của Chính phủ
Đối với Nguyễn Minh T, Trần Minh H, Nguyễn Tấn Đ, Cao Thanh T và Võ Hồng H mua ma túy của bị cáo G, V để sử dụng, Công an thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đã ra quyết định xử phạt hành chính.
Đối với Huỳnh Thanh B có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy, qua giám định chƣa đủ định lƣợng xử lý trách nhiệm hình sự. Công an thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đã ra quyết định xử phạt hành chính.
Cáo trạng số 210/QĐ/KSĐT ngày 19/7/2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố các bị cáo Huỳnh Trúc G, Vũ Hoàng Quốc V về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Điểm b Khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46 và Điều 53 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Trúc G và Vũ Hoàng Quốc V từ 7 năm đến 8 năm tù.
Về vật chứng của vụ án đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo pháp luật.
Trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án các bị cáo nói lời sau cùng:
Bị cáo Huỳnh Trúc G: Bị cáo rất hối hận việc mình đã làm, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án thấp nhất cho bị cáo.
Bị cáo Vũ Hoàng Quốc V: Bị cáo biết hành vi phạm tội của mình là sai trái, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về gia đình hòa nhập cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên Tòa bị cáo Vũ Hoàng Quốc V thừa nhận việc mua ma túy về sử dụng sau đó bán ma túy cho Huỳnh Trúc G trong khoảng thời gian từ ngày 01 đến ngày 4/01/2017, bị cáo đã bán cho bị cáo G 3 lần 3 liều với giá tiền từ 500.000đồng đến 1.500.000đồng. Ngoài ra bị cáo V mang ma túy sử dụng chung với Nguyễn Minh T, Võ Hồng H khoảng 15 lần, sau khi sử dụng T và H phải trả tiền cho V từ 50.000đồng đến 100.000đồng.
Bị cáo Huỳnh Trúc G thừa nhận việc mua ma túy từ Vũ Hoàng Quốc V và ngƣời tên U (không rõ nhân thân) về sử dụng và bán lại cho Nguyễn Minh T, Trần Minh H, Huỳnh Thanh B, Nguyễn Tấn Đ, Cao Thanh T tổng 13 lần với mỗi lần bán từ 50.000đồng đến 500.000đồng trong khoảng thời gian từ tháng 12/2016 đến ngày 05/01/2017.
Ma túy bị cáo V, G sử dụng và mua bán là Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT 67, Nghị định 82 ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
Tại iều 194 ộ lu t H nh sự năm 1999, s a đ i sung năm 2009 quy đ nh:
1. Người nào tàng trữ, v n chuyển, mua án trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, th phạt tù từ hai năm đến ảy năm.
2. hạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây th phạt tù từ ảy năm đến mười lăm năm.
a Có t chức
hạm tội nhiều lần
Nhƣ vậy, với việc bán nhiều lần ma túy của bị cáo V cho bị cáo G, bị cáo G bán nhiều lần ma túy cho Nguyễn Minh T, Trần Minh H, Huỳnh Thanh B, Nguyễn Tấn Đ và Cao Thanh T. Hành vi trên của bị cáo V, G đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy đƣợc quy định tại Điểm b (phạm tội nhiều lần) Khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng số 210/QĐ-KSĐT ngày 19/7/2017 của Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố các bị cáo cũng nhƣ bản luận tội của Kiểm sát viên ngày hôm nay đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Các bị cáo Vũ Hoàng Quốc V, Huỳnh Trúc G là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo thực hiện phạm tội một cách cố ý. Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hƣởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phƣơng. Thiết nghĩ trong tình hình hiện nay hành vi mua bán chất ma túy, tệ nạn nghiện ma túy xảy ra nhiều có diễn biến phức tạp, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tội phạm hình sự gia tăng. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án tù có thời hạn tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành ngƣời công dân có ích cho gia đình, xã hội cũng nhƣ có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Bị cáo V, G không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tình tiết trên đƣợc quy định tại Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo V, G có nhân thân tốt thể hiện việc không có tiền án, tiền sự.
Trong vụ án có đồng phạm bị cáo V mua ma túy về sử dụng sau đó bán lại cho bị cáo G, bị cáo G sử dụng một phần ma túy, phần còn lại bán cho số ngƣời nghiện. Các bị cáo không có bàn bạc, phân công vai trò cụ thể do vậy không xem là phạm tội có tổ chức. Bị cáo V, G tham gia với vai trò ngƣời thực hành. Tuy bị cáo G bán ma túy nhiều lần hơn so với bị cáo V, nhƣng bị cáo V bán ma túy cho G với số lƣợng lớn hơn. Do vậy mức hình phạt bị cáo V, G phải ngang nhau.
Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ bị cáo Vũ Hoàng Quốc V 01 gói nylong hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu tr ng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 55P3-2739; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen + Sim điện thoại; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu tr ng + sim điện thoại và 8.000.000đồng.
Huỳnh Thanh B: 02 bịch nylong hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu tr ng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5S màu tr ng có sim số 01647026633; 01 xe mô tô hiệu Sirius màu đỏ đen, biển số 61D1-545.85.
Khám xét chỗ ở Huỳnh Trúc G thu giữ: 01 gói nylong màu tr ng đƣợc hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất tinh thể màu tr ng; 01 xe mô tô honda 67 màu đen biển số 60EF -6987; 01 xe mô tô nhãn hiệu Novo Yamaha màu tr ng biển số 61D1- 162.34; 01 điện thoại Lenovo màu tr ng + sim điện thoại, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
Đối với số ma túy thu giữ, sim số điện thoại của bị cáo V, G cần tịch thu tiêu hủy.
Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen của bị cáo V, điện thoại di động hiệu Lenovo màu tr ng của bị cáo G, xe mô tô nhãn hiệu Wave màu đỏ đen, biển số 55P3-2739 bị cáo V sử dụng vào việc phạm tội. Cần tịch thu sung quỹ nhà nƣớc
Đối với điện thoại di động hiệu Sam sung + sim điện thoại và 8.000.000đồng của bị cáo V; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5S màu tr ng có sim số 01647026633, 01 xe mô tô hiệu Sirius màu đỏ đen, biển số 61D1-545.85 của Huỳnh Thanh B; 01 xe mô tô honda 67 màu đen biển số 60EF -6987 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Novo Yamaha màu tr ng biển số 61D1- 162.34 của Huỳnh Trúc G. Do không liên quan đến hành vi phạm tội, Công an thị xã Dĩ An đã trả lại chủ sở hữu là đúng pháp luật.
Đối với Nguyễn Minh T, Trần Minh H, Nguyễn Tấn Đ, Cao Thanh T và Võ Hồng H mua ma túy của bị cáo G, V để sử dụng, Huỳnh Thanh B có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy. Công an thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đã ra quyết định xử phạt hành chính, thông báo về địa phƣơng quản lý giáo dục. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Trong vụ án còn có ngƣời tên T1, U (không rõ nhân thân) bán ma túy cho bị cáo V, G. Công an thị xã Dĩ An tách xác minh xử lý sau là phù hợp quy định pháp luật.
Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đƣa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, mức hình phạt đối với bị cáo G, V cũng nhƣ việc xử lý vật chứng trong vụ án. Xét quan điểm trên phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy đƣợc chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo G, V phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
V các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Huỳnh Trúc G (tên gọi khác: Cu k), Vũ Hoàng Quốc V phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46 và Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 đối với bị cáo V, G.
Xử phạt bị cáo Vũ Hoàng Quốc V 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Trúc G 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời gian chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo G, V tính từ ngày 05/01/2017.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điểm a, c Khoản 1, 2 Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 74, Điểm a, b Khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu sung quỹ nhà nƣớc:
+ 01 (một) xe mô tô biển số 55P3-2739 màu đỏ đen, số khung Y058129, số máy C12E -0672775.
+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số IMEI 353288/96/901714/8
+ 01(một) điện thoại di động hiệu Lenovo màu tr ng đã bị vỡ (bể) màn hình.
Tịch thu tiêu hủy:
+02 (hai) sim điện thoại (mang số 0978.945.324 và 0916.636.002)
+01 (một) bì thƣ niêm phong số 17/PC54 bên trong chứa ma túy Methamphetamine trọng lƣợng sau giám định 0,0542gam.
Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/7/2017.
3. Về án phí: Áp dụng Khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14.
Các bị cáo Huỳnh Trúc G, Vũ Hoàng Quốc V mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có m t có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án ho c bản án đƣợc niêm yết.
| Nơi nhận: - Bị cáo (01); - Ngƣời tham gia tố tụng (01) - VKSND thị xã Dĩ An (01); - Công an thị xã Dĩ An (01); - Trại giam CA tỉnh Bình Dƣơng (01); - Chi cục THADS thị xã Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01); - UBND nơi bị cáo cƣ trú (01); - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dƣơng (01); - Phòng PC 81 CA tỉnh Bình Dƣơng (01); - Lƣu: VT,HSVA (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Linh |