- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H + đồng phạm bị truy tố về tội Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Phạm Ngọc A, Đậu Đăng C và Đậu Đăng T phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG —————————— Bản án số: 215/2023/HS-ST Ngày 27-7-2023 |
NHÂN DA
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;
2. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố A, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Trọng An, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 199/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 232/2023/QĐXX-HS ngày 30/6/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 99/2023/HSST-QĐ ngày 11/7/2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn H, sinh năm 1973 tại tỉnh Hà Tĩnh; thƣờng trú: Số A khu phố B, phƣờng D, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Công nhân; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và bà Nguyễn Thị L (đã chết); bị cáo có 05 anh em, lớn nhất sinh năm 1961, nhỏ nhất sinh năm 1976, bị cáo có vợ tên Phạm Thị Ng, snh năm 1977 và có 02 con: con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2023 đến ngày 05/4/2023 đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú cho đến nay, bị cáo có mặt.
2. Phạm Ngọc A, sinh năm 1988 tại tỉnh Hà Tĩnh; thƣờng trú: Số B khu phố Đ, phƣờng T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Công nhân; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Phạm Văn Kh, sinh năm 1956 và bà Phạm Thị V, sinh năm 1955; bị cáo có 03 anh chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1985; bị cáo có vợ tên Võ Thị T, sinh năm 1990 và có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2023 đến ngày 05/4/2023 đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú cho đến nay, bị cáo có mặt.
3. Đậu Đăng C, sinh năm 1992 tại tỉnh Nghệ An; thƣờng trú: Xóm Ph, xã D, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; tạm trú: Số C đƣờng Ng, khu phố B, phƣờng D, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Công nhân; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Đậu Đăng T1, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1959; bị cáo có 04 A chị ruột, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1989; bị cáo có vợ tên Đỗ Thị L, sinh năm 1992 và có 02 con: lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2023 đến ngày 09/5/2023 đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Quyết định bảo lĩnh, bị cáo có mặt.
4. Đậu Đăng T, sinh năm 1987 tại tỉnh Nghệ An; thƣờng trú: thƣờng trú Xóm Ph, xã D, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; chỗ ở: Số D khu phố B, phƣờng D, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Công nhân; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Đậu Đăng T1, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1959; bị cáo có 04 A chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1992; bị cáo có vợ tên Phan Thị Thùy D, sinh năm 1989 và có 03 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2023 đến ngày 09/5/2023 đƣợc thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Quyết định bảo lĩnh, bị cáo có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
A Phạm Minh Ch, sinh năm 1979 và chị Đặng Thị Th, sinh năm 1982; cùng địa chỉ: Số E khu phố B, phƣờng D, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 18 giờ ngày 26/3/2023, các bị cáo Nguyễn Văn H, Phạm Ngọc A, Đậu Đăng T và Đậu Đăng C đến nhà của anh Phạm Minh Ch tại địa chỉ: E khu phố B, phƣờng D, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng cùng ăn nhậu đến khoảng 20 giờ 30 phút thì nghỉ. Lúc này anh Ch đƣa ngƣời hàng xóm đi cấp cứu, còn H, A, T, C vẫn ngồi chơi tại nhà anh Ch và nhìn thấy có bộ bài tây 52 lá để trên đầu tủ nên cả bốn ngƣời rủ nhau chơi bài cát tê ăn thua bằng tiền. Hình thức chơi: mỗi ván bài đặt số tiền ăn thua từ 10.000 đến 20.000 đồng. Đến 21 giờ cùng ngày, khi các bị cáo đang chơi bài thì bị lực lƣợng Công an phƣờng Dĩ An vào kiểm tra bắt quả tang cùng tang vật và thu giữ số tiền trên chiếu bạc là 3.240.000 đồng cùng một bộ bài tây 52 lá.
Qua điều tra xác định:
+ Bị cáo Nguyễn Văn H mang theo số tiền 4.720.000 đồng, bị cáo sử dụng 720.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc bị cáo thua 60.000 đồng, trong số tiền tang thu đƣợc có 660.000 đồng của bị cáo H và thu giữ trên ngƣời bị cáo 4.000.000 đồng;
+ Bị cáo Phạm Ngọc A mang theo số tiền 2.850.000 đồng, bị cáo sử dụng hết số tiền 2.850.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc bị cáo thắng 150.000 đồng, trong số tiền tang thu đƣợc có 1.000.000 đồng của bị cáo A và thu giữ trên ngƣời bị cáo 2.000.000 đồng;
+ Bị cáo Đậu Đăng C mang theo số tiền 1.100.000 đồng, bị cáo sử dụng hết 1.100.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc bị cáo thắng 160.000 đồng, trong số tiền tang thu đƣợc có 1.010.000 đồng của bị cáo C và thu giữ trên ngƣời bị cáo 250.000 đồng;
+ Bị cáo Đậu Đăng T mang theo số tiền 2.860.000 đồng, bị cáo sử dụng hết số tiền 2.860.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc bị cáo thua 250.000 đồng, trong số tiền tang thu đƣợc có 570.000 đồng của bị cáo Toàn và thu giữ trên ngƣời bị cáo 2.040.000 đồng;
Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 7.530.000 đồng (bảy triệu năm trăm ba mƣơi nghìn đồng).
Vật chứng thu giữ:
+ 01 bộ bài tây 52 lá;
+ Số tiền 11.530.000 đồng (mƣời một triệu năm trăm ba mƣơi nghìn đồng).
Tại cáo trạng số 222/CT – VKS – DA ngày 08 tháng 6 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H, Phạm Ngọc A, Đậu Đăng T và Đậu Đăng C về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn H, Phạm Ngọc A, Đậu Đăng C, Đậu Đăng T mỗi bị cáo từ 06(sáu) đến 09(chín) tháng tù giam.
Về xử lý vật chứng:
+ Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng;
+ Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nƣớc số tiền 7.530.000 đồng.
Đối với số tiền 4.000.000đ của bị cáo H, bị cáo không sử dụng tiền này vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo.
Đối với anh Ch, chị Th là chủ nhà nhƣng không biết các bị cáo sử dụng nhà mình để đánh bạc vì lúc đó không có mặt ở nhà nên không đủ căn cứ khởi tố.
Tại phiên tòa, các bị cáo không tranh luận.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nh mức án cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Vào khoảng 20 giờ 30 ngày 26/3/2023, tại số nhà E khu phố B, phƣờng D, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, các bị cáo Nguyễn Văn H, Phạm Ngọc A, Đậu Đăng C và Đậu Đăng T đã cùng nhau chơi bài cát tê để phân thắng thua bằng tiền, số tiền các bị cáo sử dụng để chơi bài là 7.530.000 đồng, đến 21 giờ 30, trong khi các bị cáo đang chơi bài thì bị bắt quả tang. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nhƣ Biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, Sơ đồ nơi xảy ra vụ việc, Biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu,…. Nhƣ vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 222/CT – VKS – DA ngày 08 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội. Về ý thức chủ quan, các bị cáo nhận thức rõ hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, bị Nhà nƣớc nghiêm cấm nhƣng vì tham lam tƣ lợi các bị cáo đã cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của các bị cáo, các tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo.
Vụ án này có tính chất đồng phạm nhƣng là đồng phạm giản đơn, không có tổ chức, cấu kết chặt chẽ, các bị cáo có vai trò ngang nhau vì cùng rủ nhau chơi đánh bài thắng thua bằng tiền và cũng là ngƣời tham gia chơi bài.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có
Tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, đây là những tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng để giảm nh một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với ngƣời phạm tội.
Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt, có công việc ổn định.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính:
+ Xét các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cƣ trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự, trong thời gian tại ngoại các bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phƣơng, thời gian tạm giữ, tạm giam cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo. Do áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo nên cần hủy bỏ các Lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú số: 105, 106 ngày 08 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đối với các bị cáo Nguyễn Văn H, Phạm Ngọc A, hủy bỏ Quyết định về việc bảo lĩnh số 04, 05 ngày 08 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đối với bị cáo Đậu Đăng C và bị cáo T. Các bị cáo có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Ngƣời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Do Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về biện pháp tƣ pháp và xử lý vật chứng:
- Đối với số tiền 7.530.000 đồng là số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc nên Hội đồng xét xử sẽ tuyên tịch thu sung vào Ngân sách nhà nƣớc.
- Đối với bộ bài tây 52 lá các bị cáo sử dụng đánh bạc không còn giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 4.000.000 đồng của bị cáo H bị cáo H không sử dụng vào việc đánh bạc nên Cơ quan Điều tra Công an thành phố Dĩ An trả lại cho bị cáo H là đúng quy định pháp luật.
Đối với anh Ch, chị Th là chủ nhà số 334/25 khu phố Bình Minh 1, phƣờng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, là địa điểm các bị cáo đánh bạc. Tại thời điểm các bị cáo đánh bạc anh Ch, chị Th đều đi ra ngoài nên không biết các bị cáo đánh bạc tại nhà mình, do đó cơ quan Điều tra không khởi tố là có căn cứ.
Mức hình phạt nhƣ đại diện Viện kiểm sát đề nghị là nghiêm khắc đối với các bị cáo, căn cứ vào những phân tích tại mục [8] của phần nhận định, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng hình phạt nh hơn mức đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Phạm Ngọc A, Đậu Đăng C và Đậu Đăng T phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H số tiền 25.000.000đ (hai mƣơi lăm triệu đồng).
- Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc A số tiền 25.000.000đ (hai mƣơi lăm triệu đồng).
- Xử phạt bị cáo Đậu Đăng T số tiền 25.000.000đ (hai mƣơi lăm triệu đồng).
- Xử phạt bị cáo Đậu Đăng C số tiền từ 25.000.000đ (hai mƣơi lăm triệu đồng).
2. Về biện pháp tƣ pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nƣớc số tiền 7.530.000đ (bảy triệu năm trăm ba mƣơi nghìn đồng).
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài tây 52 lá.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 14/6/2023)
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Các bị cáo Nguyễn Văn H, Phạm Ngọc A, Đậu Đăng C và Đậu Đăng T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Các bị cáo có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định pháp luật. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND thành phố Dĩ An;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Công an thành phố Dĩ An;
- Chi cục THA dân sự thành phố Dĩ An;
- Trại tạm giam CA tỉnh BD;
- TAND tỉnh BD;
- UBND nơi bị cáo cƣ trú;
- Phòng PV 06 CA tỉnh BD;
- Phòng PC 10 CA tỉnh BD;
Trần Thị Kim Hoa
- Ngƣời tham gia tố tụng;
- Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; -VKS nhân dân tỉnh Bình Dƣơng;
- Lƣu: VT, HS.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Dĩ An; - Công an thành phố Dĩ An; - Chi cục THA dân sự thành phố Dĩ An; - Trại tạm giam CA tỉnh BD; - TAND tỉnh BD; - UBND nơi bị cáo cƣ trú; - Phòng PV 27 CA tỉnh BD; - Phòng PC 81 CA tỉnh BD; - Ngƣời tham gia tố tụng; - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; -VKS nhân dân tỉnh Bình Dƣơng; - Lƣu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |