vanban.org

Bản án 215/2023/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 21/07/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/07/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Pô R. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HS-ST ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.Tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "VỖ PO RÍC - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Pô R. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HS-ST ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 215/2023/HS-PT
Ngày 21 - 7 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà.

Các Thẩm phán: 1. Ông Trương Công Huấn.

2. Ông Ngô Đức Thụ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Quốc - Thư ký Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thủy Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 178/2023/TLPT-HS ngày 18 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo Võ Pô R do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HS-ST ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Võ Pô R, sinh năm: 1985, tại Quảng Ngãi; nơi thường trú: Tổ dân phố T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; tạm trú: 49/3B Tổ C, ấp N, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: công nhân cơ khí; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Võ Triệu C và bà Nguyễn Thị H; có vợ và 02 con, sinh năm 2017 và năm 2019; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 30 ngày 28/12/2021, tại trước số I P, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xảy ra vụ va chạm giao thông giữa xe mô tô biển số 59P1-213.72 do anh Hoàng Quốc T điều khiển lưu thông trên đường P hướng từ đường Q về đường T với xe mô tô biển số 68P1-190.23 do Võ Pô R điều khiển vượt xe và lấn tuyến lưu thông chiều ngược lại làm cả hai và xe ngã xuống đường. Hậu quả làm anh T bị thương tích nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện T1, đến 05 giờ 00 phút ngày 01/01/2022 anh T chết tại Bệnh viện.

Tại Kết luận giám định pháp y tử thi số 402-22/KLGĐ-PY ngày 27 tháng 01 năm 2022 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận nguyên nhân chết của anh Hoàng Quốc T: Chết do chấn thương sọ não.

Theo kết luận giám định số 2208/KLGĐ-TT ngày 26 tháng 5 năm 2022 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: “1. Dấu vết hằn, trượt xước kim loại ở mặt trước phía dưới bộ phận giảm sốc trước bên trái xe mô tô biển số 68P1-190.23 (kích thước 2,5cmx2cm – vị trí thấp nhất cách mặt đất khoảng 29cm, vị trí cao nhất cách mặt đất khoảng 31cm) có chiều từ trái sang phải, từ trên xuống dưới phù hợp với dấu vết cong vênh, trượt xước kim loại ở phía trước cần số xe mô tô biển số 59P1-213,72 (kích thước 4cm x 3cm – vị trí cao nhất cách mặt đất khoảng 30cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất khoảng 28cm) có chiều từ phải sang trái, từ trước về sau. 2. Không đủ cơ sở kết luận vị trí va chạm đầu tiền giữa xe mô tô biển số 68P1-190.23 và xe mô tô biển số 59P1-213.72. 3. Không đủ cơ sở kết luận các dấu vết còn lại trên xe mô tô biển số 68P1-190.23 và xe mô tô biển số 59P1-213.72”.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 38/2022/HS-ST ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã ra quyết định:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260 và điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tuyên bố: Bị cáo Võ Pô R phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Võ Pô R 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra,Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Võ Pô R làm đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

+ Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với bản án sở thẩm đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nhận định án sở thẩm đã xét xử đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đại diện Viện Kiểm sát cho rằng: trong vụ án này Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù là có căn cứ. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi trú rõ ràng; hiện là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Hơn nữa, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, nạn nhân cũng có phần lỗi khi điều khiển xe máy nhưng nồng độ cồn quá cao; sau khi xảy ra sự việc bị cáo đã ăn năn hối cãi, bồi thường khắc phục hậu quả cho nạn nhân và được gia đình nạn nhân bãi nại. Đối chiếu với các quy định của pháp luật về án treo, nhận thấy bị cáo không thuộc trường hợp cấm cho hưởng án treo, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng: giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định.

+ Bị cáo không tranh luận, nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc gia đình của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Võ Pô R làm đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo. Xét đơn kháng cáo của bị cáo được làm trong thời hạn luật định là hợp lệ, cần chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm cũng như phiên tòa phúc thẩm có đủ cơ sở để xác định:

Vào khoảng 21 giờ 30 ngày 28/12/2021, Võ Pô R điều khiển xe mô tô biển số 68P1-190.23 lưu thông trên đường P hướng từ T về Q. Khi đến trước số nhà I P, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, R điều khiển xe mô tô lấn tuyến vượt xe nhưng không đảm bảo an toàn đã để xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 59P1-213.72 do anh Hoàng Quốc T điều khiển theo hướng chiều lưu thông ngược lại, hậu quả làm anh T tử vong. Hành vi của Võ Pô R đã vi phạm Điều 8 và Điều 14 Luật Giao thông đường bộ năm 2008.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: trong vụ án này, sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn ăn hối cải; đã tự nguyện khắc phục hậu quả của vụ án và đại diện của nạn nhân có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự; phạm tội lần đầu. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cần áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.

Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, nghề nghiệp ổn định; trong vụ án này bị cáo phạm tội với lỗi vô ý và nạn nhân cũng có một phần lỗi khi điều khiển xe gắn máy có nồng độ cồn trong máu quá cao, vi phạm Điều 8 của Luật giao thông đường bộ năm 2008. Căn cứ theo quy định tại Điều 2 và Điều 3 của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Điều 1 của Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, thì bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo và không thuộc trường hợp không cho hưởng án treo.

Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo và sửa bản án sơ thẩm, áp dụng thêm Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, như vậy cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội. Việc cho bị cáo hưởng án treo cũng phù hợp lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Pô R. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HS-ST ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ vào điểm a khoản a Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Võ Pô R 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.Trong trường hợp cbị cáo thay đổi nơi cư trú sẽ được thực hiện theo Điều 92 luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo không phải nộp.

Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm về các vấn đề không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

(Đã giải thích chế định án treo).

Cỡ chữ