vanban.org

Bản án 215/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà N xin ly hôn với N"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN N DÂN
HUYỆN A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Nán số: 215/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 30/5/2022
V/v “Tranh chấp hôn N và gia đình, ly hôn”

N DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN N DÂN HUYỆN A

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Việt Quốc

Các Hội thẩm N dân:

1. Ông Nguyễn Quốc Thanh;

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền;

Thư ký ghi biên Nphiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Huynh - Thư ký Tòa án N dân huyện A.

Đại diện Viện kiểm sát N dân huyện A tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án N dân huyện A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2022 về việc: “Tranh chấp hôn N và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 237/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 278A/2022/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đặng Thị N, sinh năm 1988; Địa chỉ: Tổ 08, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang;

Bị đơn: Ông Lê Văn N, sinh năm 1984; Địa chỉ: Tổ 08, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.

(Bà N có mặt, ông N vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14/04/2021 cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà Đặng Thị N trình bày: Bà và ông N biết nhau do tự tìm hiểu, đến đầu năm 2006 tôi và ông N đã tiến tới hôn N và tổ chức lễ cưới. Có Đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện A, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 181, quyển số 01, ngày 10/12/2007. Sau khi kết hôn, bà và ông N chung sống hạnh phúc với nhau tại nhà ông N (ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang). Đến đầu năm 2019, phát sinh mâu thuẫn nguyên N do bất đồng quan điểm sống, nãy sinh nhiều mâu thuẫn, tính tình không phù hợp, nên vợ chồng nãy sinh nhiều mâu thuẫn. Bà và ông N không còn sống chung với nhau từ đầu năm 2019 cho đến nay. Hai bên gia đình đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành. Nay bà yêu cầu xin ly hôn với ông N.

Về con chung: Có 04 (bốn) con chung tên: Lê Khả Đ, sinh năm 2007, Lê Phú Đ, sinh năm 2010, Lê Khánh Đ, sinh ngày: 17/7/2017 và Lê Gia H, sinh ngày 17/3/2021. Hiện các con chung đang sinh sông với Bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu dược tiếp tục nuôi dạy 04 con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông N không có mặt theo triệu tập của Tòa nên không ghi nhận được ý kiến của ông N; ông N cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến.

Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.

Theo cung cấp của Công an xã P tại Biên biên bản xác minh ngày 18/5/2022 được biết, ông Lê Văn N; sinh năm 1984 hiện vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại Địa chỉ: Tổ 06, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, bà N bảo lưu ý kiến.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử vắng mặt, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn về hôn N và con chung có căn cứ nên đề nghị chấp nhận. Đối với tài sản chung ông N vắng mặt nếu sau này ông N chứng minh về tài sản chung thì sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ kiện khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà Đặng Thị N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Văn N. Đồng thời, ông N cư trú trên địa bàn huyện A. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn N và gia đình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án N dân huyện A.

[2] Về nội dung: Quan hệ hôn N giữa bà N, ông N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban N dân xã P theo quy định nên được xem là hôn N hợp pháp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nên thụ lý, giải quyết theo Điều 53 của Luật hôn N và gia đình.

Xét yêu cầu của bà N xin ly hôn với ông N, Hội đồng xét xử xét thấy thời gian ly thân giữa bà N, ông N đã lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn. Đồng thời gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành. Xét thấy mâu thuẫn của bà N, ông N không thể hàn gắn. nên Hội đồng xét xử chấp nhận ly hôn theo yêu cầu của bà N theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn N và gia đình.

[3] Về con chung: Có 04 (bốn) con chung tên: Lê Khả Đ, sinh năm 2007, Lê Phú Đ, sinh năm 2010, Lê Khánh Đ, sinh ngày: 17/7/2017 và Lê Gia H, sinh ngày 17/3/2021. Hiện các con chung đang sinh sông với tôi. Khi ly hôn bà N yêu cầu dược tiếp tục nuôi dạy các con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, từ khi ly thân đến nay, các con chung đang sống với bà N. Do đó, để tránh xáo trộn về mặt tâm lý đối với con chung và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành Nên nên Hội đồng xétt xử chấp nhận cho bà N tiếp tục nuôi các con chung là phù hợp.

[4] Về cấp dưỡng: Bà N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của bà N.

[5] Về tài sản chung: Bà N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết. Về nợ chung: Bà N và ông N không yêu cầu nên không xem xét.

[6] Về án phí: Bà N là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn N sơ thẩm. Ông N không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 8, 82, 83, 84 Luật hôn N và gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016;

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Đặng Thị N.

Về hôn N: Bà Đặng Thị N được ly hôn với ông Lê Văn N.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 181, quyển số 01, ngày 10/12/2007 của Ủy ban N dân xã P, huyện A, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Bà Đặng Thị N được tiếp tục nuôi con chung 04 con chung tên: Lê Khả Đ, sinh năm 2007, Lê Phú Đ, sinh năm 2010, Lê Khánh Đ, sinh ngày: 17/7/2017 và Lê Gia H, sinh ngày 17/3/2021. Công nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà N cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về án phí: Bà N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn N gia đình sơ thẩm. Khấu trừ 300.000 đồng từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006724 ngày 11/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A. (Bà N nộp đủ).

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/5/2022), bà N được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án N dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo của ông N là 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc từ ngày bản án được Nêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ