- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGuyễn Văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? T bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁNNHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH ––––––––––––––– Bản án số: 215/2021/HSST Ngày 29-12-2021 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Minh Ngà.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Tường Vi và bà Lê Thị Thanh Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Loan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Thắng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 183/2021/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 207/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn L - tên gọi khác: không, giới tính: Nam; sinh ngày 20/11/1990, tại huyện C tỉnh Phú Thọ. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm A, xã V, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Chỗ ở: tổ 5, khu 9A, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: lao động tự do. Trình độ học vấn: lớp 09/12. Con ông Nguyễn Văn T và bà Phùng Thị C.Vợ: Hà Thị Đ; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
+ Ngày 11/3/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 11/3/2009, chấp hành xong bản án.
+ Ngày 08/12/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xử 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 01/3/2010, chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 09/8/2012, chấp hành xong bản án;
+ Ngày 26/5/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xử 08 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 09/8/2012, chấp hành xong bản án;
+ Ngày 19/01/2012, bị Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử 02 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 02/10/2013, chấp hành xong bản án.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 09/8/2021, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Vũ Đình G – sinh năm: 1990; Nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã T, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn A - sinh năm: 1960; Nơi ĐKNKTT: Tổ 2, khu 1A, phường Cẩm Phú, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Anh Nguyễn Thanh T – sinh năm: 1962; Nơi ĐKNKTT: Tổ 19, khu 2A, phường Cẩm Phú, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 30 phút ngày 09/8/2021, tại tổ 38, khu 3, phường Cẩm Phú, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Công an thành phố Cẩm Phả bắt quả tang Nguyễn Văn L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: thu tại tay phải của L 01 túi nilon kích thước (2x2)cm chứa chất tinh thể màu trắng; thu tại túi quần bên trái của L 01 điện thoại Vivo vỏ màu đỏ, lắp sim số 0972.002.422 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu trắng xanh, biển số 89H1-119.25.
Tại Bản kết luận giám định số 1501/KLGĐ ngày 13/8/2021, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon thu giữ của L gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,385 gam. Hoàn lại 0,32 gam Methamphetamine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Nguyễn Văn L khai nhận: bị cáo mới sử dụng ma túy từ khi đến làm việc tại thành phố Hạ L vào khoảng đầu tháng 8/2021. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 09/8/2021, bị cáo gặp một người đàn ông mới quen (không biết nhân thân, lai lịch) ở khu vực chợ Cái Dăm, thành phố Hạ L, cả hai rủ nhau mua ma túy đá cùng sử dụng. Bị cáo nói có 500.000 đồng và hỏi người này chỗ bán ma túy thì người này mượn điện thoại gọi cho ai đó hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy. Sau đó, bị cáo điều khiển xe mô tô chở người đàn ông đến điểm hẹn tại ngã 3, cọc 6, thuộc phường Cẩm Phú, thành phố Cẩm Phả gặp được một người bán ma túy, người đi cùng bị cáo xuống xe đứng đợi, còn người bán ma túy bảo bị cáo chở đến một ngõ nhỏ gần khu vực sân bóng thuộc phường Cẩm Phú, thành phố Cẩm Phả. Tại đây, bị cáo đưa cho người này 500.000 đồng, người này cầm tiền đi một lúc rồi quay lại đưa cho bị cáo 01 túi nilon chứa ma túy đá. Bị cáo cầm ma túy bằng tay phải rồi điều khiển xe đi khoảng 10m thì bị Công an kiểm tra, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Người chứng kiến là anh Nguyễn Văn A, Nguyễn Thanh T vắng mặt tại phiên tòa, nhưng tại cơ quan điều tra đều có lời khai thể hiện nội dung: Hồi 21 giờ 30 phút ngày 09/8/2021, tại tổ 38, khu 3, phường Cẩm Phú, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, các anh chứng kiến Công an thành phố Cẩm Phả bắt quả tang và thu giữ tại tay phải của bị cáo 01 túi nilon kích thước (2x2)cm chứa chất tinh thể màu trắng, bị cáo khai nhận là ma túy đá, ngoài ra còn thu giữ của bị cáo 01 điện thoại Vivo và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter. (BL 38, 40).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Đình Giỏi, vắng mặt tại phiên tòa, nhưng quá trình điều tra có lời khai: chiếc xe máy Yamaha Exciter biển số 89H1-119.25 là của anh, anh không biết bị cáo L mượn để đi mua ma túy, anh đề nghị trả chiếc xe này cho anh. (BL 80, 81).
Tài liệu có trong hồ sơ ngoài kết luận giám định ma túy (BL 32); lời khai của người chứng kiến còn có các tài liệu khác: Biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 30); biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ (BL 33, 34); bản ảnh vật chứng (BL 32); biên bản kiểm tra điện thoại thu giữ của bị cáo (BL 35) các tài liệu này đều có nội dung phù hợp lời khai của bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 194/CT – VKSCP ngày 16/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa kiểm sát viên trình bày luận tội bị cáo với đề nghị kết tội bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 18 đến 21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 09/8/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; ngoài ra có quan điểm xử lý vật chứng theo quy định.
Tại phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với kết luận của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo thực sự ăn năn hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cẩm Phả, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn L khai nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến, phù hợp tài liệu có trong hồ sơ vụ án: kết luận giám định ma túy, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng.
Trên cơ sở các chứng cứ trên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: hồi 21 giờ 30 phút, ngày 09/8/2021, tại tổ 38, khu 3, phường Cẩm Phú, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Văn L có hành vi tàng trữ trái phép 0,385 (không phảy ba trăm tám mươi lăm) gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng, thì bị Công an thành phố Cẩm Phả bắt quả tang.
Hành vi này của bị cáo Nguyễn Văn L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, tội danh có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù. Cáo trạng truy tố bị cáo đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện làm cho người sử dụng phải lệ thuộc vào nó, ma túy làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, kinh tế của người sử dụng và là nguồn phát sinh tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội. Pháp luật Nhà nước ta xử lý nghiêm khắc đối với các tội về ma tuý, mục đích để ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn ma túy trong xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu được tác hại của ma tuý đối với người sử dụng và biết được sự nghiêm cấm của pháp luật đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng vì lối sống không có trách nhiệm với bản thân với xã hội, bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy tại địa phương, gây mất trật tự, trị an xã hội. Vì vậy cần xử lý cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Năm 2008, 2009, 2011, 2012 bị cáo đều bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo đều đã chấp hành xong và tính đến ngày phạm tội lần này các bản án này đều đã được xóa án tích, nên chỉ xác định là nhân thân đối với bị cáo, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về vật chứng: số mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động Vivo thu của bị cáo, đã dùng để liên lạc hỏi mua ma túy, xác định là vật dùng vào việc phạm tội nên tịch sung vào ngân sách nhà nước; đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 89H1-119.25, kết quả điều tra xác định là tài sản của anh Vũ Đình Giỏi, anh Giỏi không biết bị cáo mượn xe để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Giỏi là phù hợp, nên không đề cập giải quyết.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Án phí: bị cáo thuộc hộ cận nghèo, tại phiên tòa bị cáo đề nghị được miễn án phí, nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông theo Nguyễn Văn L khai đã cùng L đi mua ma túy và người đàn ông bán ma túy cho L, do không có thông tin cụ thể về tên, tuổi, địa chỉ, nên không có cơ sở để xác minh làm rõ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
T bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 09/08/2021.
Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
-Tịch thu tiêu huỷ: số ma túy hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 1501/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh.
-Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu đỏ, máy có nhiều vết xước, kèm 01 sim, điện thoại đã qua sử dụng.
(Hiện trạng toàn bộ vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 39/BB-THA ngày 22/11/2021 của cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả).
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn L.
Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày T án sơ thẩm; báo cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án ./. Nơi nhận:
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án nhân dân tỉnh QN;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QN;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- Viện kiểm sát nhân dân TP. Cẩm Phả
- Công an TP Cẩm Phả, CQ THA hình sự;
- Trại tạm giam Công an tỉnh QN;
- Chi cục thi hành án dân sự TP.Cẩm Phả;
- Bị cáo, -Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
\
- Lưu hồ sơ, lưu văn phòng.
Đặng Thị Minh Ngà
Thành phần Hội đồng xét xử
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mai Tường Vi – Lê Thị Thanh Thủy
Đặng Thị Minh Ngà Các thành viên Hội đồng xét xử
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Đặng Thị Minh Ngà
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh QN; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QN; - Viện kiểm sát nhân dân TP. Cẩm Phả \ - Công an TP Cẩm Phả, CQ THA hình sự; - Trại tạm giam Công an tỉnh QN; - Chi cục thi hành án dân sự TP.Cẩm Phả; - Bị cáo, - Lưu hồ sơ, lưu văn phòng. | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Thị LinhNgà |