- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn P- tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 215/2020/HS-ST Ngày 28 - 7 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Sỹ Trứ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đoàn Anh Minh.
Ông Nguyễn Đức Nhuận.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Công Tứ – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 182/2020/TLST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 203/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Lê Văn P, sinh năm 1976 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cƣ trú: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hồng H (đã chết) và bà Trịnh Thị L (đã chết); bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị N (đã ly hôn) và 01 ngƣời con; tiền án: Bản án số 13/2010/HS-ST ngày 14/6/2010 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù và phạt bổ sung 30.000.000 đồng về tội Trộm cắp tài sản, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, chƣa chấp hành hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm; tiền sự: Quyết định số 19/2015/QĐ-TA ngày 06/7/2015 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An), tỉnh Bình Dƣơng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 20 tháng; Quyết định số 80/2018/QĐ-TA của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An (nay là thành phố Thuận An), tỉnh Bình Dƣơng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng; nhân thân: Ngày 27/8/2012, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Quyết định 177B/QĐ-UBND); bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/01/2020.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
Ông Trần Anh Đ, sinh năm 1985. Vắng mặt
Ông Hoàng Tuấn N, sinh năm 1987. Vắng mặt
Bà Lê Kim T, sinh năm 1992. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào lúc 13 giờ 40 phút ngày 09/01/2020, Đội Cảnh sát điều tra về Kinh tế và Ma túy Công an thị xã Thuận An (nay là thành phố Thuận An) phối hợp cùng Công an phƣờng Lái Thiêu tiến hành kiểm tra hành chính quán cà phê Bằng Lăng Tím, tại địa chỉ: 32/2, khu phố Hòa Long, phƣờng Lái Thiêu, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng thì phát hiện tại chòi số 9 của quán cà phê có 03 ngƣời đang ngồi trong chòi, gồm: Lê Văn P, Trần Anh Đ và Hoàng Tuấn N. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần phía trƣớc bên trái của Lê Văn P có cất giấu 01 bao thuốc lá hiệu SAIGON, trong bao thuốc lá có 01 túi nilon miệng kéo dính đựng 04 đoạn ống hút nhựa màu trắng đƣợc hàn kín 02 đầu, bên trong đều chứa chất màu trắng (nghi vấn là Hêrôin); 01 túi nilon miệng kéo dính đựng 16 đoạn ống hút nhựa màu trắng bên trong đều chứa chất màu trắng (nghi vấn là Hêrôin), Lê Văn P khai nhận 20 đoạn ống hút trên đều chứa Hêrôin của P cất dấu để sử dụng nên lực lƣợng Công an tiến hành lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang và thu giữ tang vật. Qua kiểm tra tại Trung tâm y tế thị xã (nay là thành phố) Thuận An, xác định Lê Văn P, Trần Anh Đ, Hoàng Tuấn N có sử dụng ma túy loại Methamphetamine, Hêrôin.
Cơ quan điều tra Công an Thuận An ra quyết định trƣng cầu giám định đến Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng để giám định tang vật thu giữ trong vụ.
Kết luận giám định số 10/MT-PC09 ngày 15/01/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Mẫu chất màu trắng trong 04 đoạn ống hút nhựa màu trắng hàn kín là ma túy, có khối lƣợng 0,5002 gam loại Hêrôin. Mẫu chất màu trắng trong 16 đoạn ống hút nhựa màu trắng hàn kín là ma túy có khối lƣợng 2,1541 gam loại Hêrôin. Tổng trọng lƣợng ma túy Lê Văn P tàng trữ là 2,6543 gam loại Hêrôin.
Cáo trạng số 202/CT-VKS-TA ngày 22/6/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Lê Văn P về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định nhƣ bản cáo trạng đã truy tố và xác định: Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án có thẩm quyền xét xử, bị Cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trƣờng hợp tái phạm; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn P mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối cải nên xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.
Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tình tiết nhƣ bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội và vật chứng thu giữ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:
Khoảng 13 giờ 40 phút, ngày 09/01/2020, tại quán cà phê Bằng Lăng Tím, tại địa chỉ: 32/2, khu phố Hòa Long, phƣờng Lái Thiêu, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng bị cáo Lê Văn P thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị cơ quan Công an kiểm tra, bắt phạm tội quả tang và thu giữ cùng tang vật.
Tại Kết luận giám định số 10/MT-PC09 ngày 15/01/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Mẫu chất màu trắng trong 04 đoạn ống hút nhựa màu trắng hàn kín là ma túy, có khối lƣợng 0,5002 gam loại Hêrôin. Mẫu chất màu trắng trong 16 đoạn ống hút nhựa màu trắng hàn kín là ma túy có khối lƣợng 2,1541 gam loại Hêrôin. Tổng trọng lƣợng ma túy Lê Văn P tàng trữ là 2,6543 gam loại Hêrôin. Số ma túy này bị cáo tàng trữ để sử dụng, do đó hành vi của bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật. Mức đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là phù hợp với hành vi bị cáo đã thực hiện.
Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nƣớc về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây ra sự nghiện ngập và mầm mống của các tệ nạn xã hội khác nhƣng vì muốn có ma túy sử dụng nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu, là ngƣời nghiện ma túy, đã từng bị kết án về tội Trộm cắp tài sản; bị Tòa án, ngƣời có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhƣng không lấy đó làm bài học để tự giáo, rèn luyện mà lại tiếp tục có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là thể hiện sự coi thƣờng pháp luật nên cần áp dụng mức hình phạt tƣơng xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bản án số 13/2010/HS-ST ngày 14/6/2010 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù và phạt bổ sung 30.000.000 đồng về tội Trộm cắp tài sản chƣa đƣợc xóa án tích nay lại cố ý phạm tội là thuộc trƣờng hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đối với Trần Anh Đ tại thời điểm Công an bắt quả tang Lê Văn P thì Đ cũng tự nguyện giao nộp cho lực lƣợng Công an 03 đoạn ống hút bên trong đều chứa ma túy, Đ khai nhận là ma túy của Đ đang chuẩn bị sử dụng thì bị lực lƣợng Công an kiểm tra nên tự nguyện giao nộp. Đ hoàn toàn không quen biết với P và N, việc Đ cất giấu số ma túy này thì P và N hoàn toàn không biết và Đ cũng không nói cho P và N biết nên Lực lƣợng Công an đã lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang đối với Đ cùng tang vật nhƣ trên để tiến hành điều tra xử lý bằng một vụ án khác theo quy định.
Đối với Hoàng Tuấn N là ngƣời cùng ở trong chòi số 9 của quán cà phê Bằng Lăng Tím tại thời điểm P và Đ bị bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nhƣng N không quen biết với P, Đ và cũng không biết P và Đ cất dấu ma túy trong ngƣời nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xem xét xử lý. Tuy nhiên, N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trƣớc đó nên Trƣởng Công an thành phố Thuận An đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định là đúng quy định của pháp luật.
Đối với đối tƣợng tên Lai là ngƣời đã cho P 20 đoạn ống hút chứa hêroin nhƣng không xác định đƣợc nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An sẽ tiếp tục điều tra xác minh, xử lý sau.
Về xử lý vật chứng: Đối với bì thƣ đã niêm phong ký hiệu 10/PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng và 01 gói thuốc lá hiệu SAIGON không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt Lê Văn P 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2020.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thƣ đã niêm phong ký hiệu 10/PC09 (mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng. Bê ngoài có chữ ký ngƣời chứng kiến Lê Văn P, chữ ký cán bộ giao mẫu Ngô Minh T, cán bộ nhận mẫu Trƣơng Minh H và hình dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng (Kèm theo Kết luận giám định số 10/MT-PC09 ngày 15/01/2020)
- 01 gói thuốc lá hiệu SAIGON.
(theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/6/2020).
3. Về án phí: Bị cáo Lê Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - Chi cục THA thành phố Thuận An; - CQCSĐT Công an thành phố Thuận An; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Thuận An; - Bị cáo; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Sỹ Trứ |