vanban.org

Bản án 215/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 16/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/3/2018. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 215/2018/HS-ST
Ngày 16-8-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Lại Thị Ngọc Liên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân

2. Bà Châu Hồng Nga.

- Thư ký phiên toà: Bà Chu Thị Vân - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Sơn, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 185/2018/HSST ngày 09 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 216/2018/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N, sinh năm 1991 tại tỉnh T; thƣờng trú: Ấp H, xã A, huyện S, tỉnh T; chỗ ở: Khu phố T2, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Hoàng E, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1968; có vợ tên Đinh Thị T, sinh năm 1992; có 02 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2012; bị cáo có 01 chị ruột sinh năm 1990; tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/3/2018 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Huỳnh Ngọc C, sinh năm 1988, địa chỉ: Ấp S, xã B, huyện S, tỉnh G. Chỗ ở: Khu phố T1, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Huỳnh Tấn T, sinh năm 1990; địa chỉ: Ấp K, xã H, huyện C, tỉnh T G. Chỗ ở: Khu phố T1, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B. Vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Thành T, sinh năm 1990; địa chỉ: Số 29/7A, khu phố Đ1, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B. Vắng mặt.

3. Anh Đặng Minh T, sinh năm 1978; địa chỉ: Số 4A/17, khu phố Đ1, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 24/3/2018, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Văn N sử dụng điện thoại hiệu Mobell gọi điện cho D (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 600.000 đồng ma túy đá thì D đồng ý và hẹn N đến quán nƣớc (không rõ tên) thuộc phƣờng A, thị xã D, tỉnh B để giao dịch. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, D điều khiển xe Wave (không rõ biển số) đến quán nƣớc đã hẹn trƣớc rồi đƣa cho N 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia không pin đƣợc bọc khẩu trang y tế bên ngoài, bên trong ngăn để pin của điện thoại có để 03 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng, N đƣa cho ngƣời đàn ông 600.000 đồng. Mua ma túy xong, N gọi điện thoại cho Huỳnh Tấn T đến chở N về phòng trọ. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 25/3/2018, khi T điều khiển xe mô tô hiệu honda Wave, biển số 61R2 – 1290 chở N đến trƣớc cổng sân bóng Depo thuộc khu phố T2, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B thì bị lực lƣợng tuần tra Công an phƣờng A, thị xã D, tỉnh B thấy có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, phát hiện trên tay N cầm 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia không pin đƣợc bọc khẩu trang y tế bên ngoài, bên trong ngăn để pin của điện thoại có để 03 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng, N khai nhận ma túy đá nên lực lƣợng công an tiến hành lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang Nguyễn Văn N cùng vật chứng.

Tại kết luận giám định số 180/MT-PC54 ngày 29/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu chất màu trắng có trong 02 gói nylon gửi giám định là ma túy, trọng lƣợng 0,1718 gam (M1) và 0,2064 gam (M2), loại Methamphetamine. Tổng trọng lƣợng ma túy thu đƣợc là 0,3782 gam.

Ngày 03/4/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D ra quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định khởi tố bị can và tạm giam để điều tra đối với Nguyễn Văn N về tội vận chuyển trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Vật chứng thu giữ: 03 gói nylon hàn kín chứa chất màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, không có pin; 01 khẩu trang y tế; 01 điện thoại di động hiệu Mobell; 01 xe mô tô hiệu honda Wave, biển số 61R2 – 1290.

Đối với ngƣời đàn ông tên D đã bán ma túy cho N, hiện chƣa xác định đƣợc nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D đang xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với Huỳnh Tấn T sử dụng xe mô tô hiệu honda Wave, số khung: 12116, số máy: 012116, biển số 61R2 – 1290 chở bị can N. T không biết việc N có mang ma túy trong ngƣời nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D không xử lý đối với T. Tuy nhiên qua test ma túy thấy T có dấu hiệu sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D đã ra Quyết định xử phạt hành chính Huỳnh Tấn T số tiền 750.000 đồng theo khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013.

Cáo trạng số 194/CT-VKS ngày 09 tháng 7 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh B truy tố Nguyễn Văn N về tội “vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D đề nghị thay đổi tội danh từ vận chuyển trái phép chất ma túy sang tàng trữ trái phép chất ma túy do mục đích của bị cáo mua ma túy để sử dụng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 mô tô hiệu honda Wave, số khung: 12116, số máy: 012116, biển số 61R2 – 1290, qua điều tra xác minh đƣợc xe là tài sản của anh Huỳnh Ngọc C cho Huỳnh Tấn T mƣợn, anh C không biết việc T đi chở N có ma túy trong ngƣời nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp.

Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc 01 điện thoại di động hiệu Mobell mà N sử dụng để liên lạc mua ma túy.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bì thƣ niêm phong bên trong chứa 0,2516 gam Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định và 01 điện thoại di động hiệu Nokia, không có pin; 01 khẩu trang y tế không còn giá trị sử dụng, .

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Nhí xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã D, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; ngƣời làm chứng cũng không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 25/3/2018, khi T điều khiển xe mô tô hiệu honda Wave, biển số 61R2 – 1290 chở Nhí đến trƣớc cổng sân bóng Depo thuộc khu phố T2, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B thì bị lực lƣợng tuần tra Công an phƣờng A, thị xã D, tỉnh B thấy có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, phát hiện trên tay N cầm 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia không pin đƣợc bọc khẩu trang y tế bên ngoài, bên trong ngăn để pin của điện thoại có để 03 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng, N khai nhận ma túy đá nên lực lƣợng công an tiến hành lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang Nguyễn Văn N cùng vật chứng.

Tại kết luận giám định số 180/MT-PC54 ngày 29/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu chất màu trắng có trong 02 gói nylon gửi giám định là ma túy, trọng lƣợng 0,1718 gam (M1) và 0,2064 gam (M2), loại Methamphetamine. Tổng trọng lƣợng ma túy thu đƣợc là 0,3782 gam.

Tại phiên tòa, bị cáo đa khai nhâ ̣̃

n toàn bô ̣ hành vi pha ̣m tô ̣i , lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của ngƣời làm chứng tại cơ quan điều tra, biên bản bắt ngƣời có hành vi phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đã có đủ cơ sở xác định: Với hành vi cất giữ 0,3782 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo đủ năng lƣ̣c chi ̣u trách nhiê ̣m hinh sƣ̣ . Do

̀ vâ ̣y, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản nhƣ trên là có căn cứ, đúng ngƣờ i, đúng tô ̣i.

Tính chất, mức độ của hành vi: Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xa hô ̣̃ i, xâm pha ̣m đến hoa ̣t đô ̣ng quản lý của Nhà nƣớ c đối vớ i chất ma túy. Hiện nay, tình hình nghiện hút chất ma túy đang diễn ra phức tạp trong mọi tầng lớp . Tệ nạn này là mối quan tâm của toàn xã hội, loại tội phạm này là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng, gây hậu quả rất xấu cho xã hội. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, cần có mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, có xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ đƣợc quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên khi quyết đi ̣nh hinh pha ̣t cũng cần xem xét giảm

̀ mô ̣t phần hinh pha ̣t cho bi ̣ cáo.

̀

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự, có 02 con nhỏ, bản thân không biết chữ nên khả năng nhận thức pháp luật hạn chế.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì thƣ niêm phong bên trong chứa 0,2516 gam ma túy Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, không có pin; 01 khẩu trang y tế. Tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc 01 điện thoại di động hiệu Mobell.

Mức hình phạt do đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo N là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/3/2018.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thƣ niêm phong số 180/PC54 bên trong chứa Methamphetamin trọng lƣợng sau giám định 0,2516 gam; 01 khẩu trang y tế màu xanh; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đỏ không có pin, số IMEI: 355773139168450. Tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc 01 điện thoại di động hiệu Mobell màu đen, số IMEI: 812896030101717

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/7/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã D với Chi cục thi hành án Dân sự thị xã D).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự ; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp 200.000 (Hai trăm nghin) đồng án phí hình sự

̀ sơ thẩm.

Bị cáo có mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ