- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "anh Trần Minh H và chị Nguyễn Thị N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Trần Minh H .
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 214/2023/HNGĐ-ST Ngày 07 tháng 4 năm 2023 V/v: Xác nhận cha cho con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Sen
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Kim Dung
2. Ông Phạm Bá Xuân
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Quang Huy – Cán bộ Tòa án nhân dân quận B.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mai Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hxét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 922/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2023 về việc “Xác nhận cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 2 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2023/QĐST-HPT ngày 02 tháng 03 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2023/QĐST-HPT ngày 20 tháng 03 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Minh H, sinh năm 1974; HKTT: Số 28 đường 10 phố N, phường P, quận B, thành phố H; Hiện đang thi hành án tại Trại giam N, thị Trấn B, huyện K, tỉnh H.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1988; HKTT và nơi ở: Số 16 đường N, phường Đ, quận H, thành phố H.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1979; Địa chỉ: Số 16 đường N, phường Đ, quận H, thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Nguyên đơn – anh Trần Minh H trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị N có quan hệ tình cảm với nhau từ năm 2018. Sau đó, cuối năm 2018, chị N mang thai. Đến ngày 21/7/2019, chị N sinh con trai tại Bệnh viện Phụ sản H và dự định đặt tên con là Trần Gia B. Anh khẳng định cháu Trần Gia B, sinh ngày 21/7/2019 (tên dự sinh theo Giấy chứng sinh số 0025213, quyển số 0253 ngày 21/7/2019) là con chung của anh và chị N.
Anh đã tiến hành xét nghiệm ADN tại Công ty cổ phần Công nghệ GEN ứng dụng V. Tại Kết quả phân tích ADN ngày 08/6/2021 đã kết luận: Trần Minh H có quan hệ huyết thống cha con với Trần Gia B với xác suất 99,9999%.
Hiện nay, cháu Trần Gia B đang sinh sống cùng chị gái anh là Trần Phương T, sinh năm 1969 tại địa chỉ: Số 28 đường N, phường P, quận B, thành phố H. Sau khi chị N sinh cháu B, anh và chị N đều nhờ chị gái anh chăm sóc cho cháu B.
Nay anh yêu cầu Tòa án xác nhận cháu Trần Gia B, sinh ngày 21/7/2019 là con chung của anh và chị N.
Hiện nay, anh không biết chị N ở đâu do anh không liên lạc với chị N.
Anh mong Tòa án sớm giải quyết vụ án để cháu Trần Gia B sớm làm được Giấy khai sinh để cháu được đi học.
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Thông báo không tiến hành phiên hòa giải; Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tuy nhiên bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt không lý do, vì vậy Tòa án không tiến hành lấy lời khai của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được và cũng không tiến hành hòa giải cho các đương sự được. Do đó, Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;
Về nội dung giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28; Điều 35, Điều 39; Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự, các Điều 88, 89, 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Xác định cháu Trần Gia B, sinh ngày 21/7/2019 là con đẻ của anh Trần Minh H và chị Nguyễn Thị N. Về án phí: Anh H được miễn nộp tiền án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Trần Minh H nộp đơn yêu cầu xác định cha cho con đối với chị Nguyễn Thị N. Đây là tranh chấp về xác định cha cho con thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Nguyễn Thị N có HKTT tại số 16 đường N, phường Đ, quận H, thành phố H. Cháu Trần Gia B hiện đang cư trú, sinh sống tại địa chỉ Số 28 đường 10 phố N, phường P, quận B, thành phố H. Anh H yêu cầu Tòa án nhân dân quận B giải quyết vụ việc là nơi anh có Hộ khẩu thường trú và cháu B đang cư trú, sinh sống nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận B theo quy định tại Điều 35, Điều 39, Điều 40 Bộ Luật tố tụng dân sự.
- Về thủ tục giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là chị Nguyễn Thị N và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Minh T không đến Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự theo quy định của pháp luật. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đối với chị N và anh Thành theo quy định của pháp luật nhưng chị N, anh T vẫn không đến tham gia tố tụng và không tham gia xét xử tại phiên tòa. Đây là lần thứ 2 bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[2] Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của đương sự, căn cứ và các chứng cứ do các đương sự cung cấp và các chứng cứ do Tòa án đã thu thập, có đủ cơ sở xác định: Chị Nguyễn Thị N sinh cháu Trần Gia B ngày 21/7/2019 khi đang còn trong quan hệ hôn nhân với anh Nguyễn Minh T. Ngày 22/3/2021, anh T và chị N ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 65A/2021/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân quận H, thành phố H. Tại Quyết định này, Tòa án không xác định cháu Trần Gia B là con chung của chị N và anh T.
Anh Trần Minh H đề nghị Tòa án xác định cháu Trần Gia B là con đẻ của anh và chị N.
Tại kết quả xét nghiệm số 210608.32 ngày 08/6/2021 của Công ty Cổ phần công nghệ GEN ứng dụng V, kết luận: “Trần Minh H có quan hệ huyết thống cha – con với Trần Gia B với xác suất 99.9999%”
Xét thấy, có đủ căn cứ xác định cháu Trần Gia B, sinh ngày 21/7/2019 là con đẻ của chị Nguyễn Thị N và anh Trần Minh H nên yêu cầu của anh H là có căn cứ chấp nhận.
[3] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh H được miễn nộp tiền án phí sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
[7] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B tham gia phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các căn cứ và nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, 40, Điều 227, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự;
Căn cứ Điều Căn cứ các Điều 88, Điều 89, Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Trần Minh H .
2. Xác định cháu Trần Gia B, sinh ngày 21/7/2019 (Theo Giấy chứng sinh số 0025213, quyển số 0253 ngày 21/7/2019 của Bệnh viện Phụ sản Hà Nội) là con đẻ của anh Trần Minh H và chị Nguyễn Thị N.
Anh Trần Minh H , chị Nguyễn Thị N có trách nhiệm đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu Trần Gia B theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Anh Trần Minh H được miễn nộp tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND TP. H;
- VKSND quận B;
- Chi Cục THA dân sự quận B;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Dương Thị Sen THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Dương Thị Sen
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - VKSND quận B; - Chi Cục THA dân sự quận B; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Sen THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Sen | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Sen THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |