- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ tình cảm: Cho chị Trịnh Thị H ly hôn anh Nguyễn Trọng C;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 214/2023/HNGĐ-ST Ngày 29 - 8 - 2023 V/v " Ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN
- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán, Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Khắc Thiệu và ông Lê Văn Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Thủy - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 140/2023/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2023 về việc: “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2023/QĐXX- ST ngày 11/7/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 81/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28/7/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị H, sinh năm 1993; Nơi ĐKHKTT: Xóm Văn Trường, xã Hiến Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: Xóm 7, xã Diễn Yên, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin xử vắng mặt
- Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng C, sinh năm 1995; địa chỉ: Xóm Văn Trường, xã Hiến Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong Đơn xin ly hôn và bản tự khai ngày 08 tháng 6 năm 2023 của nguyên đơn chị Trịnh Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị H và anh Nguyễn Trọng C kết hôn vào ngày 27/7/2018 trên cơ sở tự nguyện và có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hiến Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2019 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do anh Nguyễn Trọng C nghiện bài bạc và không lo làm ăn, thường xuyên đánh đập và đe dọa nhục mạ chị H khiến hôn nhân rơi vào bế tắc và khủng hoảng. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đô Lương giải quyết cho chị Trịnh Thị H ly hôn với anh Nguyễn Trọng C
- Về quan hệ con chung: Không có
- Về tài sản và nghĩa vụ tài sản chung: không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Trọng C được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt, do đó Tòa án không thu thập được lời khai của anh Nguyễn Trọng C. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương phát biểu ý kiến theo quy định tại điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:
- Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ các quy định của bộ luật tố tụng dân sự trong việc thụ lý vụ án, thông báo thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp cũng như thời hạn giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định về tHnh phần, nguyên tắc xét xử, trình tự tố tụng tại phiên tòa. Thư ký Tòa án thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp Hnh nghiêm chỉnh quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp Hnh quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đây là lần triệu tập hợp lệ thứ hai nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do C đáng, nguyên đơn có đơn xin xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt các đượng sự là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị áp dụng điều 28, 35, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trịnh Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Trọng C;
Về quan hệ con chung: Không có
Về tài sản chung và nghĩa vụ tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét; nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Trịnh Thị H yêu cầu giải quyết về ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Trọng C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Hiến Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 5 điều 28 và khoản 1 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, do vậy Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
Tòa án đã tiến Hnh Thông báo thụ lý vụ án, triệu tập bị đơn nhiều lần hợp lệ đến các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do C đáng, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về nội dung: Tại phiên tòa các đương sự đều vắng mặt nhưng quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ án đã xác định được:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị H và anh Nguyễn Trọng C kết hôn vào ngày 27/7/2018 trên cơ sở tự nguyện và có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hiến Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An và không vi phạm các quy định về điều kiện kết hôn tại điều 8, điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy hôn nhân hợp pháp.
Chị H trình bày sau khi cưới vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2019 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm. Đến giữa năm 2022 mâu thuẫn trở nên trầm trọng và sống ly thân từ đó đến nay.
Xét, mặc dù không thu thập được lời khai của anh C nhưng Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh C, chị H để tiến Hnh hòa giải nhưng anh C không có mặt và việc từ khi chị H nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết đến nay vợ chồng chị H, anh C đã không chung sống với nhau, không có biện pháp để Hn gắn tình cảm vợ chồng là đã vi phạm nghĩa vụ sống chung, thương yêu, chăm sóc, quan tâm giúp đỡ nhau theo quy định tại điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nên có cơ sở để khẳng định, hôn nhân giữa chị H và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì thế cần áp dụng điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014, xử cho chị Trịnh Thị H ly hôn anh Nguyễn Trọng C
Về quan hệ con chung: Không có
Về tài sản chung, nghĩa vụ tài sản chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa không có kiến nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự
Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Xử:
- Về quan hệ tình cảm: Cho chị Trịnh Thị H ly hôn anh Nguyễn Trọng C;
- Về quan hệ con chung: Không có
- Về tài sản chung, nghĩa vụ tài sản chung: Không có
- Về án phí: Chị Trịnh Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0002966 ngày 01/6/2023 do Chi cục thi Hnh án dân sự huyện Đô Lương phát Hnh.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Đô Lương; - UBND xã Hiến Sơn; - CCTHADS huyện Đô Lương; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Anh |