vanban.org

Bản án 214/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội Tuyên án 23/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức C, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn H1,

Nguyễn Văn T3, Đỗ Văn T5 phạm tội “Đánh bạc”. Nguyễn Đức C 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức C và đồng phạm đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức C, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn H1,
  • Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đông A
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:214/2022/HSST
Ngày: 23/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đông A – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà:

Ông Bùi Quang Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đắc Huy.9

2. Bà Nguyễn Thị Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Minh Anh – Thư ký Toà án nhân dân Huyện Đông A, Thành phố Hà Nội.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông A, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa : Ông Nguyễn Doãn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân Huyện Đông A, Thành phố Hà Nội đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 192/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số199/2022/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Đức C Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh năm: 1977 tại: Hà Nội. Nơi ĐKHKTT: Thôn Mỹ N, xã Bắc H, huyện Đông A, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do Văn hoá: 8/12. Họ tên bố: Nguyễn Mạnh T. Họ tên mẹ Trần Thi C1. Gia đình bị can có 03 anh em bị can là con thứ ba. Vợ : Nguyễn Thị Thanh N sinh năm 1988. Con: Bị can có 03 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 14/7/2022 đến ngày 17/7/2022 thì hủy giữ. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn C2 Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh năm: 1977 tại: Hà Nội. Nơi ĐKHKTT: Thôn Mỹ N, xã Bắc H, huyện Đông A, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do Văn hoá: 7/12. Họ tên bố: Nguyễn Văn Đ Sn: 1934. Họ tên mẹ Trương Thị H Sn: 1939. Gia đình có 08 chị em, bị can là con thứ 6 trong gia đình. Vợ : Tô Thế T1 sinh năm 1983. Con: Bị can có 03 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 14/7/2022 đến ngày 17/7/2022 thì hủy giữ. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Nguyễn Văn H1 Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh năm: 1983 tại: Thái Bình. Nơi ĐKHKTT: Thôn Mỹ N, xã Bắc H, huyện Đông A, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Công nhân Văn hoá: 12/12. Họ tên bố: Nguyễn Văn L Sn: 1952. Họ tên mẹ Nguyễn Thị L1 Sn: 1957. Gia đình bị can có 03 chị em, bị can là con thứ hai. Vợ : Nguyễn Thị Kim T2 sinh năm 1984. Con: Bị can có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 14/7/2022 đến ngày 17/7/2022 thì hủy giữ. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Nguyễn Văn T3 Giới tính: Nam. Tên khác: Không. Sinh năm: 1984 tại: Hà Nội. Nơi ĐKHKTT: Thôn Mỹ N, xã Bắc H, huyện Đông A, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do Văn hoá: 12/12. Họ tên bố: Nguyễn Hữu T4 Sn: 1962. Họ tên mẹ Ngô Thị D Sn: 1961. Gia đình bị can có 03 anh em, bị can là con thứ ba. Vợ : Trần Thị C2 sinh năm 1988. Con: Bị can có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 14/7/2022 đến ngày 17/7/2022 thì hủy giữ. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa.

5. Họ và tên: Đỗ Văn T5 Giới tính: Nam. Tên gọi khác: KhôngSinh năm: 1982 tại: Thái Nguyên. Nơi ĐKHKTT: Thôn Mỹ N, xã Bắc H, huyện Đông A, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Công nhân Văn hoá: 5/12. Họ tên bố: Đỗ Văn L2 Sn: 1911. Họ tên mẹ Vũ Thị Q Sn: 1943. Gia đình có 11 anh chị em, bị can là con thứ mười một. Vợ : Nguyễn Hồng D1 sinh năm 1985. Con: Bị can có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2012. Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo đầu thú và tạm giữ từ ngày 14/7/2022 đến ngày 17/7/2022 thì hủy giữ. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ15 phút, ngày 14/7/2022, Tổ công tác của Công an xã Bắc H - Công an huyện Đông A phát hiện bắt quả tang tại nhà ở của Nguyễn Đức C địa chỉ thôn Mỹ N, xã Bắc H, huyện Đông A, thành phố Hà Nội có 04 đối tượng đang đánh sâm được thua bằng tiền gồm: Nguyễn Đức C, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn T3. Tạm giữ số tiền đánh bạc: 6.540.000 đ (Sáu triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng) gồm 300.00 đồng tiền hồ; 02 (Hai) bộ bài tú lơ khơ, mỗi bộ có 52 lá bài trong đó 01 bộ màu vàng, 01 bộ màu xanh; 01 (Một) chiếu cói, đã qua sử dụng. Tổ công tác Công an xã Bắc H lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ vật chứng và đưa những người liên quan về trụ sở làm việc.

Ngoài ra còn tạm giữ:

- Của Nguyễn Văn T3: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 9S màu trắng sữa số Imel 862418052331684/00; Imeil 2 862418052331692/00 bên trong lắp sim thuê bao số 0941004584 và 0904554454; 35.000 đồng và 01 ví da màu đen

Kết quả điều tra xác định:

Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 13/7/2022, anh Nguyễn Đức C, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn T3 gặp nhau tại đám cưới tại thôn Mỹ N, Bắc H, Đông A, Hà Nội. Khoảng 19 giờ 30 phút, cùng ngày, sau khi ăn cỗ cưới xong, T3, C2, H1 cùng về nhà C tại thôn Mỹ N, xã Bắc H, huyện Đông A, thành phố Hà Nội ngồi uống nuớc. Trong lúc uống nước, tất cả cùng rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh phỏm ăn tiền. C là người chuẩn bị 02 bộ bài tú lơ khơ và chiếu cói và cùng với T3, C2, và H1 đánh bạc. Đến khoảng 23 giờ, cùng ngày, Đỗ Văn T5 đến nhà C chơi. Thấy tất cả đang đánh bạc, Trọng xin tham gia đánh bạc cùng. Thì tất cả cùng thống nhất chuyển sang đánh bạc bằng hình thức đánh sâm ăn tiền, mức sát phạt là 10.000 đồng/lá. Quá trình đánh bạc, C không yêu cầu mọi người phải nộp tiền hồ hoặc thu phế để ngồi chơi đánh bạc, tất cả thống nhất khi đánh phỏm người có bài ù và khi đánh sâm người có bài sâm thì bỏ ra tiền hồ 20.000 đồng/ván cho chủ nhà để mua chè, thuốc lá phục vụ. Khi đánh phỏm C ngồi ở gần cửa ra vào, T3 ngồi đối diện C, bên phải C là H1, bên trái là C2. Khi đánh sâm, vị trí vẫn giữ nguyên, Trọng ngồi chèn vào giữa C và H1. Quá trình đánh bạc, có các ông Nguyễn Văn S (Sinh năm: 1975), ông Tô Văn I (Sinh năm: 1964) và anh Nguyễn Văn C3 (Sinh năm: 1980) cùng trú tại thôn Mỹ N, Bắc H, Đông A, Hà Nội đến uống nuớc và ngồi xem, không tham gia đánh bạc. Khoảng 0 giờ 15 phút, ngày 14/7/2022, tổ công tác của Công an xã Bắc H, huyện Đông A phát hiện bắt quả tang 04 đối tượng, riêng Trọng chạy thoát, đến sáng ngày 14/7/2022, Trọng đến Công an xã Bắc H đầu thú. Tại cơ quan điều tra, các anh Nguyễn Đức C, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn H1, Đỗ Văn T5 khai nhận hành vi đánh bạc phù hợp với tài liệu điều tra thu thập được. Cụ thể:

- Nguyễn Đức C khai là người là người chuẩn bị bài tú lơ khơ, chiếu cói phục vụ các đối tượng đánh bạc. Những người tham gia đánh bạc dưới hình thức đánh phỏm ăn tiền gồm: anh H1, C2, T3, và C trực tiếp chơi bạc. Khi anh Trọng đến thì mọi người chuyển sang đánh Sâm ăn tiền. Khi đánh bạc, C mang theo 2.600.000 đồng. Quá trình chơi cho anh T3 vay 2.000.000 đồng.

- Nguyễn Văn C2 khai: Mang 850.000 đồng để tham gia đánh bạc, khi bị bắt C2 thua 170.000 đồng, còn 680.000 đồng.

- Nguyễn Văn H1 khai: Khi đánh bạc mang theo 800.000 đồng để tham gia đánh bạc, khi bị bắt thắng 400.000 đồng.

- Nguyễn Văn T3: Khi đánh bạc khai mang theo 550.000 đồng để tham gia đánh bạc. Quá trình chơi T3 có vay của C 2.000.000 đồng. Khi bị bắt bị thua còn: 1.020.000 đồng, Ngoài số tiền dưới chiếu bạc, trong ví của T3 có 35.000 đồng.

- Đỗ Văn T5: Khi đánh bạc Trọng mang theo 640.000 đồng để tham gia đánh bạc, thua còn 90.000 đồng để lại duới chiếu và bỏ chạy. Sau đó, Trọng đến cơ quan công an đầu thú.

Đối với các ông Nguyễn Văn S, Tô Văn I và anh Nguyễn Văn C3 ngồi xem các con bạc đánh bạc, không tham gia đánh bạc. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ. Đối với hành vi của Nguyễn Đức C chuẩn bị các dụng cụ đánh bạc, cho các con bạc đánh bạc tại nhà mình. C không đòi hỏi các con bạc nộp tiền phế nhưng các con bạc tự thoả thuận với nhau con bạc nào ù và sâm thì bỏ ra 20.000 đồng. Số tiền các con bạc sử dụng cho việc đánh là 6.540.000 đồng (nhỏ hơn: 20.000.000 đồng) nên không xử lý Nguyễn Đức C về hành vi Đánh bạc, tổ chức đánh bạc.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 9S màu trắng sữa số Imel 862418052331684/00; Imeil 2 862418052331692/00 bên trong lắp sim thuê bao số 0941004584 và 0904554454; 35.000 đồng và 01 ví da màu đen là tài sản hợp pháp của Nguyễn Văn T3, không liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó, ngày 13/9/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định xử lý vật chứng trao trả lại Nguyễn Văn T3.

Cáo trạng số 155 /CT-VKS-ĐA ngày 10 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông A, Hà Nội đã truy tố các bị cáo: Nguyễn Đức C, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn T3 và Đỗ Văn T5 về tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS. Viện kiếm sát nhân dân huyện Đông A sau khị phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Quyết định truy tố bị cáo và đề nghị hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; đối với bị cáo Đỗ Văn T5 là đối tượng ra đầu thú nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt:

Nguyễn Đức C từ 10 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 20 đến 24 tháng tù.

Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn H1 từ 8 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng.

Đỗ Văn T5 từ 6 đến 8 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 đến 16 tháng.

- Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc chiếu, 02 bộ bài tú lơ khơ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đông A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tội danh: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra. Do đó xác định được: Hồi 0 giờ 15 phút ngày 14/7/2022, tại nhà của Nguyễn Đức C địa chỉ thôn Mỹ N, xã Bắc H, huyện Đông A, thành phố Hà Nội Nguyễn Đức C, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn T3, Đỗ Văn T5 có hành vi đánh bạc trái phép ăn tiền dưới hình thức đánh sâm thì bị phát hiện và bắt quả tang. Tổng số tiền tham gia đánh bạc bị thu giữ là: 6.540.000 đồng.

Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận Nguyễn Đức C, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn T3 và Đỗ Văn T5 đã phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Mặt khác, còn là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình vi phạm pháp luật nhưng do ý thức coi thường pháp luật và ham lợi nên các bị cáo vẫn cố tình phạm tội.

Đây là vụ án có tính chất đồng phạm. Trong đó, bị cáo Nguyễn Đức C có hành vi sử dụng nhà ở của mình làm địa điểm; chuẩn bị công cụ phạm tội như chiếu, 02bộ bài tú lơ khơ cho các con bạc dùng làm công cụ đánh bạc. Nguyễn Đức C, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn H1, Nguyễn Văn T3, Đỗ Văn T5 có hành vi đánh bạc trái phép ăn tiền dưới hình thức đánh sâm thì bị phát hiện và bắt quả tang. Tổng số tiền tham gia đánh bạc bị thu giữ là: 6.540.000 đồng.

Khi đánh bạc, C mang theo 2.600.000 đồng. Quá trình chơi cho T3 vay 2.000.000 đồng. Đồng thời còn sử dụng nhà và công cụ cho các con bạc nên phải chịu hình sự cao nhất.

- Nguyễn Văn T3: Khi đánh bạc khai mang theo 550.000 đồng để tham gia đánh bạc. Quá trình chơi T3 có vay của C 2.000.000 đồng. Nên phải chịu trách nhiệm thấp hơn bị cáo C.

- Nguyễn Văn C2 khai: Mang 850.000 đồng để tham gia đánh bạc. Nên phải chịu trách nhiệm thấp hơn bị cáo T3.

- Nguyễn Văn H1 khai: Khi đánh bạc mang theo 800.000 đồng để tham gia đánh bạc, Nên phải chịu trách nhiệm thấp hơn bị cáo C2.

- Đỗ Văn T5: Khi đánh bạc Trọng mang theo ít nhất 640.000 đồng để tham gia đánh bạc, Sau đó Trọng còn đến cơ quan công an đầu thú. Nên chịu trách nhiệm hình sự thấp nhất trong số các bị cáo.

. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

-Về nhân thân: Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là cơ sở cho các bị cáo được hưởng các tình tiết quy định tại điểm i ,s khoản 1 Điều 51; Đối với bị cáo Trọng còn ra “Đầu Thú” nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ Hội đồng xét xử thấy các bị cáo:

+ Nguyễn Đức C, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn C2 có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có lý lịch và nơi cứ trú rõ ràng, nên cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

+ Nguyễn Văn H1, Đỗ Văn T5 chịu trách nhiệm thấp hơn ba bị cáo trên nên cho hai bị cáo xử phạt bằng hình thức phạt tiền đối cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Đối với các ông Nguyễn Văn S, Tô Văn I và anh Nguyễn Văn C3 ngồi xem các con bạc đánh bạc, không tham gia đánh bạc. Do đó, cơ quan Cănh sát điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ. Đối với hành vi của Nguyễn Đức C chuẩn bị các dụng cụ đánh bạc, cho các con bạc đánh bạc tại nhà mình. C không đòi hỏi các con bạc nộp tiền phế nhưng các con bạc tự thoả thuận với nhau con bạc nào ù và sâm thì bỏ ra 20.000 đồng. Số tiền các con bạc sử dụng cho việc đánh là 6.540.000 đồng (nhỏ hơn: 20.000.000 đồng) nên không xử lý Nguyễn Đức C về hành vi Gá bạc, tổ chức đánh bạc. Là đúng quy định của pháp luật.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 9S màu trắng sữa số Imel 862418052331684/00; Imeil 2 862418052331692/00 bên trong lắp sim thuê bao số 0941004584 và 0904554454; 35.000 đồng và 01 ví da màu đen là tài sản hợp pháp của Nguyễn Văn T3, không liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó, ngày 13/9/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định xử lý vật chứng trao trả lại Nguyễn Văn T3 tài sản nêu trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

*Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự các bị cáo có thể bị phạt tiền nhưng xét các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng.

Về vật chứng của vụ án: Đối với số tiền 6.540.000 đồng là vật chứng của vụ án cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc chiếu, 02 bộ bài tú lơ khơ.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức C, Nguyễn Văn C2, Nguyễn Văn H1,

Nguyễn Văn T3, Đỗ Văn T5 phạm tội “Đánh bạc”.

-Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 ( đối với bị cáo Trọng thêm khoản 2 ) Điều 51; Điều 35; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt:

Nguyễn Đức C 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án.

Nguyễn Văn C2 7(bẩy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 14 tháng kể từ ngày tuyên án.

Nguyễn Văn T3 6 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án.

Xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn H1 30 triệu đồng

Xử phạt tiền bị cáo Đỗ Văn T5 20 Triệu đồng.

Giao các bị cáo Nguyễn Đức C, Nguyến Văn C2, Nguyễn Văn T3 cho Ủy ban nhân dân xã Bắc H, huyện Đông A, thành phố Hà Nội quản lý, giám sát trong thời gian thử thách.

Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo nào cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: -Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 6.540.000 đồng (năm triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng ) theo giấy nộp tiền vào tài khoản giữa Công an huyện Đông A và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông A ngày 12 tháng 10 năm 2022. -Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) chiếc chiếu cói, 02 (Hai) bộ bài tú lơ khơ được để trong phong bì có chữ ký của Điều tra viên Ngô Xuân Tùng. ( tang vật hiện có tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Đông A và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông A ngày 12 tháng 10 năm 2020 )

Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1, khoản 4 Điều 331; Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21 khoản 1 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cùng danh mục kèm theo.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. Nơi Nhận:

Cỡ chữ