vanban.org

Bản án 214/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 16/12/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngụy Thị N được ly hôn anh Đỗ Văn T.

Về con chung: Giao 01 con chung là cháu Đỗ Hải Đ, sinh ngày 28/12/2016 cho chị Ngụy Thị N nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị N không yêu cầu. Sau khi ly hôn, người không trực… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Ngụy Thị N được ly hôn anh Đỗ Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngụy Thị N được ly hôn anh Đỗ Văn T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 214/2022/HNGĐ-ST
Ngày 16/12/2022
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Minh Khánh - Cán bộ hưu.

Bà Nguyễn Thị Bích - Cán bộ hưu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 16/12/2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 191/2022/TLST-HNGĐ ngày 11/10/2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về con chung”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1634/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/10/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 142/2022/QĐST-HNGĐ ngày 29/11/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ngụy Thị N, sinh năm 1991 ( Xin vắng mặt)

Địa chỉ: Số 2A, Đỗ Xuân Hợp, Mỹ Đình I, NTL, thành phố HN.

-Bị đơn: Anh Đỗ Văn T, sinh năm 1987 ( Vắng mặt)

Địa chỉ cuối cùng: Thôn Trại Ổi, Nghĩa Trung, VY, tỉnh BG.

Hiện đang lao động tại nước ngoài không rõ địa chỉ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện bản tự khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là chị Ngụy Thị N trình bày:

1. Về quan hệ hôn nhân: Ngày 18/8/2016 chị và anh T có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Nghĩa Trung, huyện VY, tỉnh BG. Trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu và lấy nhau tự nguyện, không bị ai ép buộc và tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn chị về làm dâu và sống cùng bố mẹ chồng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc. Năm 2018 anh T đi lao động tại Hàn Quốc. Năm 2019 anh T cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc với người phụ nữ khác và có con chung nên vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh cãi, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, không thể hàn gắn, đoàn tụ, đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đỗ Văn T.

-Về con chung: Có 01 con chung là Đỗ Hải Đ, sinh ngày 28/12/2016. Hiện nay cháu đang ở cùng chị N. Ly hôn chị đề nghị được nuôi con chung không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng.

Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Đỗ Văn T hiện đang lao động tại nước ngoài nhưng không có địa chỉ cụ thể, thường xuyên vắng mặt tại địa phương. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh Đỗ Văn T.

* Tòa án đã xác minh thu thập chứng cứ thông qua bố của anh Đỗ Văn T là ông Đỗ Hải Vinh, sinh năm 1954. Địa chỉ: Thôn Trung Xuân, xã Nghĩa Trung, huyện VY, tỉnh BG có quan điểm trình bày như sau:

- Ông là bố đẻ của anh Đỗ Văn T có địa chỉ như trên. Hiện nay anh Đỗ Văn T đang đi lao động tại Hàn Quốc được khoảng 06 năm nhưng vẫn thường xuyên liên hệ với gia đình qua mạng xã hội. Về địa chỉ cụ thể của anh Đỗ Văn T ở bên nước ngoài thì ông không biết nên không cung cấp cho Tòa án được. Tòa án yêu cầu gia đình ông thông báo để anh Đỗ Văn T gửi quan điểm về thì ông từ chối thực hiện. Về việc chị N xin ly hôn thì anh Tình không có quan điểm gì trao đổi với ông nên ông không có ý kiến gì cung cấp cho Tòa án. Về mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị N thì ông không biết. Các con đang ở hai nơi khác nhau. Chị N cũng về nhà mẹ đẻ ở khoảng từ năm 2016. Hai bên gia đình vẫn đi lại bình thường.

Về con chung: Vợ chồng anh Đỗ Văn T và chị N có 01 con chung là cháu Đỗ Hải Đ, sinh ngày 28/12/2016. Ly hôn chị N đề nghị được nuôi con chung không yêu cầu anh T cấp dưỡng, anh T cũng không có ý kiến gì.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, chị N xin vắng mặt, không có quan điểm gì khác về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn. Anh Đỗ Văn T vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ xét thấy tình trạng mâu thuẫn của đương sự là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) căn cứ vào khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1, Điều 56-Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giải quyết cho chị Ngụy Thị N được ly hôn anh Đỗ Văn T. Về con chung: Giao con chung là cháu Đỗ Hải Đ, sinh ngày 28/12/2016 cho chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết. Tài sản chung, công nợ: Không có, nên không xem xét giải quyết. Về án phí: căn cứ khoản 4, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc chị Ngụy Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

.Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Ngụy Thị N là người Việt Nam, có đơn xin ly hôn và yêu cầu giải quyết nuôi con chung đối với anh Đỗ Văn T. Bị đơn anh Đỗ Văn T là người Việt Nam, có hộ khẩu thường trú tại Thôn Trại Ổi, Nghĩa Trung, VY, tỉnh BG nhưng đang cư trú ở nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 21756/QLXNC-P5 ngày 19/10/2022 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an thì anh Đỗ Văn T đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 31/10/2019, chưa thấy thông tin nhập cảnh về Việt Nam; không có thông tin địa chỉ nước đến, địa chỉ ở nước ngoài của anh Đỗ Văn T. Từ các nội dung trên, HĐXX xác định: về quan hệ pháp luật đây là vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1, Điều 28- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; về thẩm quyền: do có đương sự ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2, Điều 123- Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 37- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa chị N vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Đỗ Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh T theo quy định tại khoản 5, Điều 177; Điều 179 - Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228- Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị N, anh Đỗ Văn T.

. Về quan hệ hôn nhân:

Hội đồng xét xử thấy: Chị N và anh T được tự do tìm hiểu và tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn ngày 18/8/2016 tại UBND xã Nghĩa Trung. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn. Hiện chị Ngụy Thị N và anh Đỗ Văn T mỗi người sống một nơi, xa cách về địa lý và không còn quan tâm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống nữa, vợ chồng mâu thuẫn cắt đứt liên lạc. Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng chị N và anh Đỗ Văn T đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo như các quy định đã nêu ở trên. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, HĐXX căn cứ khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1, Điều 56 - Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị Ngụy Thị N được ly hôn anh Đỗ Văn T.

. Về con chung: Chị N đề nghị được nuôi con chung. HĐXX thấy: Tại thời điểm Tòa án giải quyết vụ án anh Đỗ Văn T không có mặt ở tại địa phương, không có địa chỉ cụ thể. Cháu Đ đang ở ổn định với chị N. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cho chị N được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Đỗ Hải Đ, sinh ngày 28/12/2016. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị N không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): chị N không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét.

. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Ngụy Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2, Điều 479- Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 53; khoản 1, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; khoản 2, Điều 123- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1, Điều 28; khoản 3, Điều 35; điểm c, khoản 1, Điều 37; khoản 4, Điều 147; điểm b, khoản 2, Điều 227; khoản 3, Điều 228; điểm b, khoản 1, Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 2, Điều 479- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a, khoản 5, điểm a, khoản 6, Điều 27- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngụy Thị N được ly hôn anh Đỗ Văn T.

2. Về con chung: Giao 01 con chung là cháu Đỗ Hải Đ, sinh ngày 28/12/2016 cho chị Ngụy Thị N nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị N không yêu cầu.

- Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về án phí: Chị Ngụy Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000625 ngày 10/10/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

4. Về quyền kháng cáo:

- Anh Đỗ Văn T hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

- Chị Ngụy Thị N cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ