vanban.org

Bản án 214/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 14/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Vũ Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Khoản 1 Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Xử phạt: Đặng Vũ Tr 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ 25 tháng 5 năm 2018. Tạm gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Vũ Tr bị truy tố về tội " tàng trữ trái phép chất ma tuý" - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ l…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Vũ Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TS
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 214/2018/HS-ST
Ngày 14 tháng 9 năm 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TS, TỈNH BẮC NINH

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Giáp

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tất Hồng, cán bộ hưu phường Đ, thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh;

2. Ông Nguyễn Văn An, cán bộ hưu phường Đ, thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh.

Những người tiến hành tố tụng khác:

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà, Thư ký Toà án thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Lan Hương, Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 14 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 225/2018/HSST ngày 17 tháng 8 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 215/2018/QĐXXST-HS ngày 30/8/2018 đối với bị cáo: Đặng Vũ Tr, sinh năm 1977 tại xã G, huyện G, tỉnh Nam Định;

Nơi cư trú: Xóm 8, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn phổ thông: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Vũ Đ, sinh 1930, đã chết và bà Nguyễn Thị H, sinh 1945, già yếu; có vợ là Phạm Thị Ph, sinh năm 1980, làm ruộng và 03 con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2015;

Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25 tháng 5 năm 2018 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bản Cáo trạng số: 157/CT-VKS ngày 15/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh truy tố Đặng Vũ Tr về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 9h30 ngày 25/5/2018, Đặng Vũ Tr, sinh năm 1977, trú tại xóm 8, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định thuê xe ôm của một người đàn ông không quen biết đi từ xã D, huyện G, thành phố Hà Nội đến địa bàn thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh với mục đích mua ma tuý để sử dụng cho bản thân. Khi đến khu phố Nguyễn G, phường Đ, thị xã TS,Tr xuống xe đi bộ vào trong khu dân cư. Trên đường đi,Tr nhìn thấy 01 người đàn ông khoảng 40 tuổi có biểu hiện giống người nghiện ma tuý, nênTr đã hỏi mua của người này 100.000 đồng heroine, người này đồng ý. Ngay sau đó,Tr đưa 100.000 đồng cho người đàn ông này, người đàn ông cầm tiền rồi đưa lại choTr 01 gói nhỏ được bọc bằng lớp giấy có mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu vàng.Tr cầm gói nhỏ vào trong lòng bàn tay trái đi tìm nơi sử dụng. Khi Tr đi được khoảng 100m thì bị Lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ cùng vật chứng. Vật chứng là 01 gói nhỏ nêu trên đã được lực lượng Công an niêm phong có chữ ký của bị cáo, người chứng kiến và dấu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã TS ở các mép của phong bì niêm phong.

Cùng ngày 25 tháng 5 năm 2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh đã ra Quyết định số: 225 trưng cầu giám định chất bột màu trắng bên trong gói nhỏ thu giữ từ Đặng Vũ Tr như đã nêu trên. Yêu cầu giám định: “Mẫu vật gửi giám định có phải là chất ma túy? Tên gọi? Khối lượng?”.

Tại bản Kết luận giám định số: 651/KLGĐMT-PC54 ngày 25 tháng 5 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh đã kết luận:

“Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nhỏ mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu vàng có khối lượng 0,3578 gam; Là ma tuý; Loại ma tuý: Heroine.

Heroine là chất ma túy được quy định tại Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất”.

Tại phiên toà, bị cáo Đặng Vũ Tr đã khai nhận: Do mắc nghiện ma túy, nên ngày 25/5/2018 bị cáo đã đến khu phố Nguyễn G, phường Đ, thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh mua ma túy của người đàn ông khoảng 40 tuổi bị cáo không quen biết. Mục đích mua để bị cáo sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì đã bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ. Vật chứng là gói nhỏ thu giữ từ bị cáo đã được Lực lượng Công an niêm phong có chữ ký của bị cáo và nhân chứng. Ngoài bị thu gói ma túy bị cáo vừa mua được, bị cáo không bị thu giữ thứ gì khác. Bị cáo nhất trí với bản Kết luận giám định số 651/KLGĐMT-PC54 ngày 25/5/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh, bị cáo không yêu cầu giám định lại. Bị cáo thừa nhận các tình tiết mô tả trong bản cáo trạng Viện kiểm sát vừa công bố tại phiên tòa giống với bản cáo trạng bị cáo đã nhận được và đúng với diễn biến của vụ án mà bị cáo đã thực hiện. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã TS truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội. Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử miễn phạt tiền cho bị cáo.

Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh giữ quyền công tố tại phiên toà hôm nay, căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; ý kiến của bị cáo và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đặng Vũ Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Đặng Vũ Tr từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 25/5/2018; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vỏ đựng mẫu vật và mẫu vật còn lại sau giám định.

Trong phần tranh luận, bị cáo nhất trí với bản luận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Kết thúc phần tranh luận, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà,

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN XÉT VỀ VỤ ÁN

1. Về tội danh: Lời nhận tội của bị cáo Đặng Vũ Tr tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng với các tình tiết của vụ án mà bị cáo đã thực hiện. Vật chứng được thu giữ từ bị cáo và giám định theo đúng trình tự luật định, sau giám định đã kết luận vật chứng thu giữ từTr có khối lượng là 0,3578 gam là ma túy; loại ma tuý: Heroine. Heroine là chất ma túy được quy định tại Nghị định số 73/2018 ngày 15/5/2018 của Chính phủ quy định danh mục chất ma túy và tiền chất.

Ma túy là chất do Nhà nước độc quyền quản lý, mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân đều không được tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng khi không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép, nhưng Đặng Vũ Tr vẫn tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Vì vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: Đặng Vũ Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

2. Về hình phạt:

- Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo phạm tội không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác. Do vậy, chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

- Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Nạn ma tuý là hiểm họa của xã hội, bị loài người cực lực lên án. Vì nó, mà không biết bao nhiêu gia đình cha mẹ mất con, vợ mất chồng, đạo đức xã hội bị băng hoại, sức khoẻ bị suy tàn, giống nòi bị thui chột, tài sản bị khánh kiệt. Đây còn là nguyên nhân trực tiếp của nhiều tội phạm nguy hiểm khác và cũng là con đường ngắn nhất để lây truyền căn bệnh vô phương cứu chữa. Biết vậy, nhưng chỉ vì thỏa mãn nhu cầu ích kỷ, đồi bại của bản thân, bị cáo vẫn bất chấp pháp luật, kỷ cương phép nước, lao vào ma túy, lao vào con đường phạm tội, để rồi phải đứng trước phiên tòa hôm nay chịu sự trừng phạt của pháp luật. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm trong xã hội.

Tuy nhiên xét thấy: Sau khi phạm tội, bị cáo đã khai báo thành khẩn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Do vậy, cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội không có mục đích trục lợi và có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Tại phiên tòa bị cáo xin miễn phạt tiền; đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Liên quan trong vụ án này còn có người lái xe ôm đã chở bị cáo đến nơi mua ma tuý và người đã bán ma tuý cho bị cáo, nhưng bị cáo không biết danh tính, địa chỉ của những người này. Vì vậy, Cơ quan điều tra vẫn đang tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.

3. Về các vấn đề khác:

- Về vật chứng vụ án:

Khi bắt quả tang Đặng Vũ Tr tàng trữ ma túy, Cơ quan điều tra đã thu giữ từTr 01 gói ma túy là Heroine có khối lượng 0,3578 gam, sau giám định còn lại 0,2532 gam mẫu vật. Xét thấy, vỏ đựng mẫu vật không có giá trị sử dụng và mẫu vật còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành. Vì vậy, cần tịch thu tiêu hủy;

- Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Vũ Tr phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Khoản 1 Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,

Xử phạt: Đặng Vũ Tr 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ 25 tháng 5 năm 2018. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 14 tháng 9 năm 2018.

3. Về các vấn đề khác:

- Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vỏ đựng mẫu vật và 0,2532 gam mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có chữ ký của Giám định viên và dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh. Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã TS, tỉnh Bắc Ninh;

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc Đặng Vũ Tr phải chịu 200.000 đồng án phí HSST;

- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ