vanban.org

Bản án 214/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 20/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Tuyên bố bị cáo Bùi Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Bùi Duy T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian từ ngày bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 05/6/2018 đến ngày 14/6/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Duy T tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NAM TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 214/2018/HS-ST
Ngày: 20/9/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Phúc

- Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Dương Thị Thảo

Ông Lê Văn Chư

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hạnh Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Ông Lương Duy Bằng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ

Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 231/2018/TLST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 294/2018/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Bùi Duy T, sinh năm 1981; Đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: số C, phường H1, quận H2, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Quý T2 và bà Tạ Thị Kim B; Vợ: Phạm Ngọc A; Có 02 con sinh năm 2014 và 2017. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Uỷ ban nhân dân quận Hoàn Kiếm ban hành Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 927/QĐ-UB ngày 14/7/2005 với thời hạn 24 tháng tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội số I. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 05/6/2018, đến ngày 14/6/2018 được hủy biện pháp tạm giữ. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú- có mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 05/6/2018, Tổ công tác Công an phường Mễ Trì làm nhiệm vụ tại khu vực cổng làng M thì phát hiện Bùi Duy T có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Thu giữ trong túi quần trước bên phải của T 01 gói nilon màu đỏ, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng.

Vật chứng thu giữ của Bùi Duy T gồm có:

- 01 gói nilon màu đỏ bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng.

- 01 điện thoại di động Samsung Note 3 màu đen.

Tại Kết luận giám định số 5357/KLGĐ-PC54 ngày 15/6/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội xác định: Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 1,138 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Bùi Duy T khai nhận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 05/6/2018, do có nhu cầu sử dụng ma túy, T vào mạng xã hội Zalo nói chuyện với một người phụ nữ có nick name “đập đá tìm anh”. Người này rủ T sử dụng ma túy, T đồng ý. Sau đó, T bắt xe taxi từ nhà tại số C xuống khu vực cầu vượt L giao với đường Đ, thuộc phường Mễ Trì gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy “đá” với giá 700.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T đi bộ về phía cổng làng M tìm gặp bạn để cùng nhau sử dụng. Khi T đang đứng chờ bạn thì bị lực lượng công an kiểm tra bắt giữ cùng vật chứng.

Đối với đối tượng bán ma túy cho T, quá trình điều tra không xác định được nhân thân nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Quá trình điều tra: Bị cáo Bùi Duy T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.

Bản cáo trạng số 237/CT-VKS ngày 16/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Bùi Duy T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, bị cáo Bùi Duy T khai nhận hành vi của mình, thành khẩn nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm như cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Bùi Duy T từ 18 đến 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy ma túy thu giữ và đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Samsung Note 3 màu đen thu giữ của Bùi Duy T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Duy T khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21h30 ngày 05/6/2018, tại cổng làng M, phường M2, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội, Bùi Duy T đã có hành vi tàng trữ trái phép 1,138 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác công an phường Mễ Trì bắt quả tang cùng vật chứng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Bùi Duy T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật.

Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Bùi Duy T có nhân thân xấu, năm 2005 từng bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được phân tích ở trên thì phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong chứa ma túy loại Mehtamphetamine có chữ ký của Bùi Duy T, Nguyễn Văn T3 và giám định viên Nguyễn Văn H3 cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động Samsung Note 3 màu đen thu giữ của Bùi Duy T cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Bùi Duy T là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về đề nghị của Viện kiểm sát đối với vụ án: Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Bùi Duy T từ 18 đến 21 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: xét thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố vụ án đúng quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015;

- Điều 38; Điều 47; Điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015;

- Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

- Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Bùi Duy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Bùi Duy T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian từ ngày bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 05/6/2018 đến ngày 14/6/2018.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong 1,138 gam Methamphetamine có chữ ký của Bùi Duy T và giám định viên Nguyễn Văn H3, cán bộ Nguyễn Văn T3; Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Samsung Note 3 màu đen theo Biên bản giao nhận vật chứng số 189 ngày 17/8/2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Nam Từ Liêm với Cơ quan Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Bùi Duy T có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ