- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ban an HS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 213/2023/HS-ST Ngày: 26-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lò Văn Viễn.
2. Ông TrầnThành Vân.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Quốc Huy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Ông Sộng Nỏ Ly – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại Tr s Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 209/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2023, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 201/2023/QĐXXST-HS ngày 15/9/2023, đối với bị cáo:
Lò Văn M, tên gọi khác: Không, sinh năm 1976; nơi cư trú: Bản H, xã C, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ giáo d c phổ thông: Không biết chữ; dân tộc: Khơ Mú; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn H và con bà: Lò Thị D (đều đã chết); vợ: Lò Thị D, có 5 con: Con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt từ ngày 07/6/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên toà, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 30 phút ngày 07/6/2023, tổ công tác Công an xã B, huyện Sông Mã làm nhiệm v tại bản Pá M, xã B, huyện Sông Mã phát hiện một người đàn ông đang đi bộ trên đường có biểu hiện nghi vấn về tội phạm ma tuý nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Khi dừng lại, đối tượng khai nhận tên là Lò Văn M, sinh năm 1976 trú tại Bản H, xã C, huyện Thuận Châu, qua kiểm tra phát hiện trong lòng bàn tay trái của M có 01 gói nilon màu hồng, bên trong chứa chất bột liên kết màu trắng (M khai nhận là Heroine). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lò Văn M, thu giữ và niêm phong vật chứng.
Ngày 08/6/2023, tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã, Hội đồng bóc m niêm phong đã tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng và trích mẫu giám định, kết quả: số bột màu trắng có khối lượng là 0,38 gam đã trích 0,06 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu M, vật chứng còn lại là 0,32 gam ký hiệu L.
Tại bản kết luận giám định số 1480/KL ngày 09/6/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu ký hiệu M gửi giám định là ma tuý; Loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,06 gam. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,38 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất”.
Quá trình điều tra xác định được như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 07/6/2023, M đem theo số tiền 200.000 đồng (là tiền do M lao động tiết kiệm mà có) đi bộ một mình từ nhà Bản H, xã C, huyện Thuận Châu đến bản Pá M, xã B, huyện Sông Mã m c đích để bắt xe khách về tỉnh Bắc Ninh để làm thuê. Trên đường đi đến đầu bản thuộc địa phận bản Pá M, xã B, M có xin đi nhờ xe của một người đàn ông dân tộc Mông (không rõ danh tính), nhưng người này không cho đi cùng. Do lên cơn thèm ma tuý nên M đã hỏi mua ma tuý của người đàn ông này thì người này đồng ý. M lấy số tiền 200.000 đồng đưa cho người này, nhận lấy tiền người đàn ông này lấy từ trong người ra 01 gói nilon màu hồng chứa Heroine đưa cho M. Mua được ma tuý M cầm lòng bàn tay trái rồi đi bộ được một đoạn, thuộc địa phận bản Pá M, xã B, huyện Sông Mã thì bị tổ công tác Công an xã B, huyện Sông Mã phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng đã nêu trên.
Cáo trạng số: 160/CT-VKSSM ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, truy tố Lò Văn M về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 04 tháng tù. Bị cáo sử d ng ma tuý và không có tài sản nên không áp d ng hình phạt bổ sung (là phạt tiền); bị cáo thuộc trường hợp được miễn nên không phải chịu án phí; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật. Bị cáo có quyền kháng cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Sau khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố t ng: Cơ quan điều tra công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định tội danh:
- Hồi 12 giờ 30 phút ngày 07/6/2023, tổ công tác Công an xã B, huyện Sông Mã làm nhiệm v tại bản Pá M, xã B phát hiện bắt quả tang Lò Văn M đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý. Thu giữ tại lòng bàn tay trái của M 01 gói Nilon màu hồng, bên trong chứa chất bột liên kết màu trắng, theo kết luận giám định là ma tuý, thuộc loại Heroine, có khối lượng là 0,38 gam, m c đích để sử d ng cá nhân.
- Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và lời khai của người chứng kiến; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh của bản Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ s kết luận: Bị cáo Lò Văn M phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, kh i tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm của Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi Tàng trữ ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm cải tạo, giáo d c bị cáo và để phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ là (người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về vấn đề khác liên quan trong v án: Đối với người đàn ông dân tộc Mông theo bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo tại khu vực bản Pá M, xã B, huyện Sông Mã. Do bị cáo không biết tên, địa chỉ c thể của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ s để điều tra, m rộng v án là có căn cứ, cần chấp nhận.
Vật chứng của v án còn lại: 0,32 gam Heroine và các đồ vật liên quan là vật cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử d ng, cần tịch thu tiêu huỷ.
Về hình phạt bổ sung và án phí: Bị cáo không có tài sản, là dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và thuộc diện hộ nghèo nên không áp d ng hình phạt bổ sung là (phạt tiền) và được miễn án phí.
Về quan điểm của Kiểm sát viên: Nội dung, tội danh và các vấn đề khác đối với bị cáo đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lò Văn M phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt: Lò Văn M 02 năm tù (hai năm). Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/6/2023.
Không áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ các đồ vật: 01 túi Nilon màu trắng chứa vật chứng 0,32 gam Heroine, 01 mảnh Nilon màu hồng và 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc m ; được đựng trong 01 (một) phong bì thư do Bưu điện Việt Nam phát hành, đã niêm phong kín.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 152 ngày 06/9/2023 của Viện kiểm sát huyện Sông Mã và biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/9/2023 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo được miễn án phí hình sự.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố t ng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 26/9/2023.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - S Tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND huyện; - THA hình sự; - CCTHA Dân sự; - Bị cáo và người tham gia tố t ng; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Văn Quyết |