- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Thị G - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Quàng Thị G phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 213/2023/HS-ST Ngày: 11/9/ 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ B - TỈNH ĐIỆN BIÊN
-Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Ích Rồng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lò Thị Cải và Ông Trần Văn Sơn
- Thư ký Phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Phùng Cẩm Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 219/2023/TLST-HS, ngày 18 tháng 8 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 218 /2023/QĐXXST – HS, ngày 29 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Quàng Thị G; Tên gọi khác: Không, sinh năm: 1959, Tại: huyện Đ B, tỉnh Điện Biên; Cư trú tại: Bản H, xã T Y, huyện Đ B, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Không; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; con ông: Quàng Văn Phúc, sinh năm 1920(đã chết) và bà Quàng Thị N, sinh năm 1920 (đã chết); Bị cáo có chồng: Lò Văn N1, sinh năm 1957 ( đã ly hôn); chồng thứ 2: Lò Văn Ún, sinh năm 1948 và 01 người con nuôi, sinh năm 1978; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: ngày 24/5/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Đ B, tỉnh Điện Biên: xử phạt 26 tháng tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, đến ngày 16/8/2018, chấp hành xong hình phạt; đã được xóa án tích; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/6/2023, tạm giam từ ngày 04/6/2023 cho đến ngày xét xử; Có mặt tại phiên tòa.
ơ
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 11 giờ 50 phút, ngày 01 tháng 6 năm 2023, Tổ công tác, Công an huyện Đ B, tỉnh Điện Biên vào nhà Quàng Thị G, phát hiện Quàng Thị G có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu kiểm tra, phát hiện tại tay phải của G đang cầm 01 gói bằng nilon màu xanh, bên trong có 02 gói nilon màu hồng và 01 gói nilon màu trắng; mở 3 gói ra bên trong có các cục bột màu trăng nghi là Heroine . Tổ công tác, Công an huyện Đ B, tỉnh Điện Biên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ 02 gói nilon màu hồng và 01 gói nilon màu trắng, bên trong có các cục bột màu trăng nghi là Heroine và 100.000 đồng. Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng ngày 01/6/2023 thì vật chứng thu giữ của Quàng Thị G gồm: các cục bột màu trắng có khối lượng: 0,27g, đồng thời gửi 0,27g làm mẫu gửi giám định; bản kết luận giám định số: 858/GĐ – PC09, ngày 08/6/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, kết luận: 0,27 gam là Heroine và hoàn trả mẫu vật là 0,2g.
Trong quá trình điều tra, Quàng Thị G khai nhận: khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 30/ 5/2023, Quàng Thị G đang chăn bò ở khu vực bản Nà Ngum, xã T Y, huyện Đ B thì gặp một người phụ nữ dân tộc Thái khoảng 50 tuổi, không biết tên và địa chỉ; G mua của người phụ nữ đó 01 gói nilon màu hồng bên trong có 04 gói Heroine với giá 150.000 đồng với mục đích để bán kiếm lời. Khoảng 11 giờ, ngày 01/6/2023, G đang ở nhà thì có một người đàn ông dân tộc Kinh khoảng 30 tuổi, không biết tên và địa chỉ đến hỏi mua ma túy nên G đã bán cho người đàn ông đó 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng. Số ma túy còn lại là 0,27 g Heroine để bán lẻ kiếm lời thì bị Công an thu giữ.
Cáo trạng số 163/CT – VKSĐB, ngày 17/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B đã truy tố bị cáo Quàng Văn G về tội: Mua bán trái phép chất ma túy " theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Quàng Thị G thành khẩn, khai nhận: Hồi 11 giờ 00 phút, ngày 01/6/2022, G đã bán cho một người đàn ông dân tộc Kinh, không biết tên và địa chỉ 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng; khoảng 11 giờ 50 phút, ngày 01/6/2023, G đang tàng trữ trái phép: 0,27 gam Heroinevới mục đích để bán kiếm lời thì bị Tổ công tác, Công an huyện Đ B bắt quả tang như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo Quàng Thị G phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy; áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Quàng Thị G từ 02 năm 05 tháng tù đến 02 năm 10 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu để tiêu hủy: 0,2g Heroine; trả lại cho bị cáo số tiền là 100.000 đồng. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Lời nói sau cùng, Quàng Thị G thừa nhận phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Quàng Thị G đã thừa nhận bán cho một người đàn ông dân tộc Kinh, khoảng 30 tuổi không biết tên và địa chỉ 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng và còn tàng trữ trái phép 0,27g Heroine với mục đích để bán kiếm lời. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, hoàn toàn phù hợp với các lời khai của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án; phù hợp với biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng ngày 01/6/2023 và kết luận giám định số: 858/GĐ – PC09, ngày 08/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, đã kết luận: 0,27g là Heroine. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Quàng Thị G đã phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy, được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:
“ 1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình đã gây ra cho xã hội.
Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng, gây nguy Hi lớn cho xã hội,
Xét về hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm rất lớn cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các chất ma túy, đã tiếp tay cho những người nghiện ma túy và làm gia tăng các loại tội phạm, ảnh hưởng rất xấu đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn, cần phải được xử lý nghiêm minh nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã bị Tòa án xét xử về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, mặc dù đã được xóa án tích nhưng có nhân thân không tốt. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xem xét có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.
Ngoài hình phạt chính, qua xác minh thì bị cáo thực sự khó khăn, thuộc hộ nghèo, không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
[ 6] Về vật chứng: Hội đồng xét xử xét thấy: 0,27g Heroine đã trích 0,07g làm mẫu giám định, còn lại 0,2g Heroine thuộc loại nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu để tiêu hủy. Đối với số tiền 100.000 đồng thu giữ của bị cáo, không chứng minh được do phạm tội mà có nên trả lại cho bị cáo.
[ 7] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B là có cơ sở pháp luật nên Hội đồng xét xử cần xem xét chấp nhận.
[ 8] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thấy rằng: Các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự nên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[ 9] Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi và thuộc diện hộ nghèo, có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
[ 10] Những vấn đề khác: Nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai mua của một người phụ nữ khoảng 50 tuổi, không biết tên và địa chỉ ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ B không có cơ sở điều tra, làm rõ là phù hợp với pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; khoản 1 Điều 331và Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Quàng Thị G phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Quàng Thị G 02 ( hai) năm 05(năm) tháng tù. Thời Hn tù tính từ ngày 01/6/2023.
3. Vật chứng: Tịch thu để tiêu hủy: 0,2g Heroine là vật chứng còn lại của vụ án sau giám định. Trả lại cho bị cáo số tiền là: 100.000 đồng( theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 17/8/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ B với Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ B).
4. Án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời Hn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên. - VKSND tỉnh Điện Biên. - VKSNDhuyện Đ B. - Cơ quan điều tra huyện Đ B. - THAHS huyện Đ B. - THADS huyện Đ B - Sở Tư Pháp tỉnh Điện Biên. - Bị cáo. - Bộ phận HSNV công an huyện ĐB - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Ích Rồng |