vanban.org

Bản án 213/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 18/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Tráng Láo D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Tráng Láo D 22 (Hai mươi hai) tháng tù.

Bị cáo được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2021 đến ngày 04/8/2021. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tráng Láo D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Tráng Láo D 22 (Hai mươi hai) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 213/2021/HS-ST
Ngày 18 – 8 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Hải Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đình Bản và ông Lò Việt Huấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Mùi Thị Quyên, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 214/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 120/2021/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2021 đối với:

Tráng Láo D, sinh năm: 1959 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản P, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 02/10; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tráng Láo L và bà Lầu Thị P (đều đã chết); bị cáo có vợ là Vàng Thị N (đã chết) và có 06 con; tiền án: Tại bản án số 49/2018/HSST ngày 03/01/2018 bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La xử phạt 21 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2021 đến ngày 04/8/2021 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh cho đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 06 giờ 30 phút ngày 06/7/2021, tổ công tác Công an xã L, huyện M làm nhiệm vụ tại Bản P, xã L, huyện M tiến hành kiểm tra đối với Tráng Láo D phát hiện Di đang cất giấu trong túi áo ngực phía trước bên phải đang mặc 01 gói nilon màu xanh bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine. Tráng Láo D khai nhận đó là gói Heroine của Di cất giấu để sử dụng cho bản thân nghiện chất ma túy. Căn cứ hành vi vi phạm của Tráng Láo D, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và dẫn giải Tráng Láo D đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu để điều tra làm rõ.

Ngày 06/7/2021, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng chất bột màu trắng thu giữ của Tráng Láo D có khối lượng 0,26 gam. Lấy toàn bộ làm mẫu giám định, mẫu có ký hiệu D.

Tại Kết luận giám định số 1258 ngày 08/7/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu D là ma tuý; Loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,26 gam; Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,26 gam; Loại Heroine”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Tráng Láo D khai nhận: Bản thân là người nghiện chất ma tuý. Khoảng 05 giờ ngày 06/7/2021, Di đi bộ từ nhà đến bản A, xã L, huyện M mục đích tìm mua ma tuý để sử dụng. Khi đi đến bản A, Di gặp và hỏi mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết được 01 gói nilon màu xanh bên trong đựng Heroine với giá 50.000 đồng, Di cất gói ma túy vào trong túi áo ngực phía trước bên phải đang mặc rồi đi về nhà, trên đường đi về thì bị tổ công tác Công an xã L, huyện M kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

Tại Cáo trạng số 154/CT-VKS ngày 04/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Tráng Láo D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Tráng Láo D trình bày ý kiến, giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tráng Láo D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Tráng Láo D từ 21 tháng đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a , c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) Phong bì bên ngoài ghi vật chứng vụ: Tráng Láo D, Bắt ngày: 6/7/2021: Bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu và mảnh nilon màu xanh; 01 (một) Phong bì bên ngoài ghi test thử ma túy đối với Tráng Láo D, ngày 6/7/2021.

3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Sau khi Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án. Bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Tráng Láo D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác Công an xã L, huyện M thu giữ của bị cáo vào ngày 06/7/2021 có nguồn gốc mua được của một người phụ nữ không quen biết với giá 50.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an xã L, huyện M lập vào hồi 06 giờ 30 phút ngày 06/7/2021; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; bản kết luận giám định số 1258 ngày 08/7/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu D là ma tuý; Loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,26 gam; Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,26 gam; Loại Heroine” nằm trong danh mục I, số thứ tự 9 Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ của Cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Tráng Láo D là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 06/7/2021 bị cáo Tráng Láo D đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,26 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo Tráng Láo D không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Tráng Láo D có 01 tiền án, chưa được xóa án tích về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo; bị cáo có bố đẻ là ông Tráng Láo L là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huy chương Kháng chiến Hạng Ba, do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy, có 01 tiền án (chưa được xóa án tích), nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội.

Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) đến 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, không có tài sản gì có giá trị, bản thân bị cáo là người nghiện ma tuý, không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) Phong bì bên ngoài ghi vật chứng vụ: Tráng Láo D, Bắt ngày: 6/7/2021: Bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu và mảnh nilon màu xanh; 01 (một) Phong bì bên ngoài ghi test thử ma túy đối với Tráng Láo D, ngày 6/7/2021. Xét thấy đây là những vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, vật không có giá trị sử dụng. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

Về các vấn đề khác: Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Tráng Láo D, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.

Về án phí: Tại phiên tòa bị cáo Tráng Láo D có yêu cầu được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Xét bị cáo là người cao tuổi, thuộc hộ cận nghèo, là người dân tộc thiểu số cư trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại Điều 2 Luật người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Tráng Láo D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Tráng Láo D 22 (Hai mươi hai) tháng tù.

Bị cáo được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2021 đến ngày 04/8/2021.

Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a , c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) Phong bì bên ngoài ghi vật chứng vụ: Tráng Láo D, Bắt ngày: 6/7/2021: Bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu và mảnh nilon màu xanh; 01 (một) Phong bì bên ngoài ghi test thử ma túy đối với Tráng Láo D, ngày 6/7/2021.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 2 Luật người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Tráng Láo D.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ