vanban.org

Bản án 213/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 24/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính t ngày 28/02/2017. Về vật ch ng: Áp dụng Điểm a, c Khoản 1, 2 Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 74, Điểm a, b Khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 213/2017/HSST
Ngày 24-8- 2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Ngọc Diệp

2. Bà Phạm Tú Nhi.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Sơn, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Văn phòng khu phố T1, phƣờng A, thị xã K, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm lƣu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 217/2017/HSST ngày 26 tháng 7 năm 2017, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 218/2017/HSST-QĐ ngày 09/8/2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T, sinh năm 1979 tại tỉnh Bình Dƣơng; thƣờng trú: 4/11 khu phố A, phƣờng H, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và con bà Phạm Thị D, sinh năm 1949; bị cáo có 04 anh em ruột, lớn sinh năm 1976, nhỏ sinh năm 1991; có vợ Huỳnh Thị Cẩm L, sinh năm 1980 và có 01 con sinh năm 2007. Tiền án: Ngày 12/3/2014 Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo bản án số 83/2014/HSST ngày 12/3/2014, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/01/2016; tiền sự: Không; bị b t tạm giam ngày 28/02/2017, có m t.

- Người làm chứng:

1. Hà Anh Th, sinh năm 1977; thƣờng trú: 373/62 đƣờng C, phƣờng 14, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 38/40 khu phố A, phƣờng H, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng, v ng m t.

2. Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1985; thƣờng trú: 15/4 khu phố M1, phƣờng A, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng; chỗ ở: 53/10 khu phố A, phƣờng H, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng, v ng m t.

3. Bùi Hữu C, sinh năm 1977; thƣờng trú: Khu phố L, phƣờng G, thị xã K, tỉnh Bình Phƣớc, v ng m t.

4. Trịnh Quốc H, sinh năm 1984; thƣờng trú: Số 261B đƣờng S, phƣờng 4, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở: Khu phố T, phƣờng B, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng, v ng m t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm t t nhƣ sau:

Bị cáo Nguyễn Thanh T sử dụng ma túy (Methamphetamine) t năm 2013, khoảng tháng 02/2017, T mua ma túy t ngƣời tên D (không r nhân thân) ở khu vực Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh về sử dụng và bán lại cho số ngƣời nghiện. Cách th c bán số ngƣời nghiện điện thoại cho T theo số 0184.808.8848 hỏi mua và hẹn địa điểm giao ho c đến địa chỉ nhà của T để mua.

Ngày 03 và 25/02/2017, T bán cho Bùi Hữu C 2 lần, mỗi lần 1 liều ma túy với số tiền mỗi liều 200.000đồng.

Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 28/02/2017, T bán cho Trịnh Quốc H 01 liều ma túy với giá 200.000đồng.

Ngày 18/02/2017, T bán cho Hà Anh Th 01 liều ma túy giá 170.000đồng.

Khoảng 15 giờ ngày 28/02/2017, T bán cho Hà Anh Th 01 liều giá 200.000đồng, Th để ma túy trong túi quần về nhà khoảng 15 giờ 30 cùng ngày, Th đi đến khu vực khu phố A, phƣờng H, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng bị Công An thị xã Dĩ An lập biên bản b t ngƣời phạm tội quả tang và thu giữ t Th 01 gói nylong bên trong ch a chất tinh thể màu tr ng.

Công an thị xã Dĩ An tiến hành b t, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thanh T thu giữ 10 gói nylong hàn kín bên trong ch a chất tinh thể màu tr ng; 01 cây kéo c t; 01 cây kéo kẹp; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 02 nỏ thủy tinh; 02 ống thủy tinh và 400.000đồng.

Kết luận giám định số 112/MT-PC54 ngày 10/4/2017 phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Chất tinh thể màu tr ng thu giữ t Hà Anh Th có Methamphetamine trọng lƣợng 0,1473gam.

Kết luận giám định số 113/MT-PC54 ngày 14/3/2017 phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Chất tinh thể màu tr ng thu giữ t Nguyễn Thanh T có Methamphetamine trọng lƣợng 4,6078gam, hàm lƣợng Methamphetamine 71,78% tƣơng đƣơng với 3,3075gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT 67, Nghị định 82 ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Bị cáo Nguyễn Thanh T không có ý kiến khiếu nại về kết luận giám định số 113/MT-PC54 ngày 14/3/2017 phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng.

Đối với Hà Anh Th, Bùi Hữu C và Trịnh Quốc H mua ma túy của bị cáo T để sử dụng, Công an thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đã ra quyết định xử phạt hành chính.

Cáo trạng số 217/QĐ/KSĐT ngày 24/7/2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Điểm b Khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất m c độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo T, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46, Điểm g Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T m c án t 7 năm 6 tháng đến 8 năm 6 tháng tù.

Về vật ch ng của vụ án đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo pháp luật.

Trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo T nói lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi gia đình, xin lỗi Hội đồng xét xử, bị cáo biết việc mình làm là vi phạm pháp luật. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ m c án thấp nhất cho bị cáo để sớm về gia đình và hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thanh T khai nhận: Bị cáo sử dụng ma túy t thời gian năm 2013. Tháng 2/2017, bị cáo mua ma túy của ngƣời tên D về sử dụng và bán cho Hà Anh Th 02 lần mỗi lần 01 liều ma túy; bán cho Bùi Hữu C 02 lần, mỗi lần 01 liều ma túy; bán cho Trịnh Quốc H 01 lần 01 liều ma túy. Ngày 28/02/2017 khi khám xét và b t giữ T thu giữ ma túy (Methamphetamine) có hàm lƣợng 3,3075gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT 67, Nghị định 82 ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Tại Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đ i b sung năm 2009 quy định:

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường h p au đây thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

a C t chức

b Phạm tội nhi u l n

Nhƣ vậy với việc bán 05 lần ma túy (Methamphetamine) cho Th, C, H. Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Thanh T là hành vi của tội Mua bán trái phép chất ma túy đƣợc quy định tại Điểm b (phạm tội nhiều lần) Khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng số 217/QĐ-KSĐT ngày 24/7/2017 của Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo cũng nhƣ bản luận tội của Kiểm sát viên ngày hôm nay đối với bị cáo là có căn c , đúng pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Thanh T là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện phạm tội một cách cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hƣởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phƣơng. Thiết nghĩ trong tình hình hiện nay hành vi mua bán trái phép chất ma túy, tệ nạn nghiện ma túy xảy ra nhiều có diễn biến ph c tạp, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tội phạm hình sự gia tăng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo T m c án tù có thời hạn tƣơng x ng với tính chất m c độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành ngƣời công dân có ích cho gia đình, xã hội cũng nhƣ có tác dụng đấu tranh, phòng ng a chung.

Về tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T phạm tội trong thời gian chƣa đƣợc xóa án tích của bản án số 83/2014/HSST ngày 12/3/2014 của Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng. Do vậy, thuộc trƣờng hợp tái phạm quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tình tiết trên đƣợc quy định tại Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo T có nhân thân xấu thể hiện việc bị cáo sử dụng ma túy, bản thân đã có tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy chƣa đƣợc xóa án tích lại phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, thể hiện sự không hƣớng thiện cho bản thân cũng nhƣ việc chấp hành pháp luật của bị cáo.

Về vật ch ng: Qua điều tra thu giữ ma túy còn lại sau giám định; bộ sử dụng ma túy; 02 nỏ thủy tinh, 02 ống thủy tinh; 02 kéo. Vật ch ng trên liên quan, sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 400.000đồng thu giữ t T đây là số tiền bị cáo T bán ma túy mà có. Do vậy, tịch thu sung quỹ nhà nƣớc.

Đối với Hà Anh Th, Bùi Hữu C, Trịnh Quốc H là ngƣời mua ma túy của bị cáo Nguyễn Thanh T để sử dụng. Công an thị xã Dĩ An đã có quyết định xử phạt hành chính bằng tiền mỗi ngƣời 750.000đồng, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với ngƣời tên D (không r nhân thân) ở khu vực Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh là ngƣời bán ma túy cho bị cáo T, Công an thị xã Dĩ An tách tiếp tục xác minh xử lý sau là phù hợp.

Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đƣa ra tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, m c hình phạt đối với bị cáo T cũng nhƣ việc xử lý vật ch ng trong vụ án. Xét quan điểm trên phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy đƣợc chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo T phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46, Điểm g Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đ i, b sung năm 2009.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính t ngày 28/02/2017.

2. Về vật ch ng: Áp dụng Điểm a, c Khoản 1, 2 Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 74, Điểm a, b Khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy :

+ 01 bì thƣ đã đƣợc Phòng kỹ thuật hình sự Công An tỉnh Bình Dƣơng niêm phong lại bên trong ch a chất tinh thể màu tr ng có Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định trọng lƣợng 0,0604gram, số 112/PC54;

+ 01 bì thƣ đã đƣợc Phòng kỹ thuật hình sự Công An tỉnh Bình Dƣơng niêm phong lại bên trong ch a chất tinh thể màu tr ng có Methamphetamine mẫu vật hoàn lại sau giám định trọng lƣợng 2,5714gram (M1) và 1,1655gram (M2) số 113/PC54;

+ 01 cây kéo c t; 01 cây kép kẹp; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 02 nỏ thủy tinh và 02 ống thủy tinh.

Tịch thu sung quỹ nhà nƣớc:

+ 400.000đồng (bốn trăm nghìn đồng).

Theo biên bản giao nhận vật ch ng, tài sản và biên lai thu tiền số 00435 ngày 26/7/2017.

3. Về án phí: Áp dụng Khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14.

Bị cáo Nguyễn Thanh T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có m t có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án.

Cỡ chữ