- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thảo V- Trần Thanh T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thảo V.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2-VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 212/2026/HNGĐ -ST Ngày: 20-7-2026 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý An.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Tám.
Bà Hà Hồng Mến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Diệu Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Gấm – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 249/2026/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thảo V, sinh ngày 23/9/2005. (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: ấp B, xã N, tỉnh Vĩnh Long.
Số CCCD: xxxxxxxxxxxx.
- Bị đơn: Anh Trần Thanh T, sinh ngày 23/6/2002. (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: ấp B, xã N, tỉnh Vĩnh Long.
Số CCCD: xxxxxxxxxxxx.
- Người làm chứng: Bà Bùi Thị Kim S, sinh năm 1977. (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: ấp P, xã S, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 18/3/2026 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thảo V trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Thanh T thành hôn có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 09/4/2024. Thời gian chung sống lúc đầu có hạnh phúc, đến đầu năm 2026 phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cự cãi và vợ chồng ly thân từ tháng 01/2026 đến nay không hàn gắn được. Nay xét thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Trần Thanh T.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Thanh S, sinh ngày 29/8/2025 hiện đang sống chung với chị, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 05/6/2026, người làm chứng bà Bùi Thị Kim S trình bày: Bà là mẹ ruột của chị Nguyễn Thị Thảo V. Giữa chị V và anh T kết hôn năm 2023, sau đó sinh sống và làm việc ở Long An. Sau khi chị V sinh con bà có đến chăm sóc chị V, khi đó vợ chồng chị V thường xuyên cự cãi, mâu thuẫn, anh T thường xuyên nhậu nhẹt. Sau đó chị V có tâm sự với bà về việc vợ chồng chị hay mâu thuẫn, bà có khuyên răn cả hai vợ chồng để hàn gắn với nhau cùng lo cho con. Chị V và anh T có 01 con chung tên Trần Thanh S, sinh ngày 29/8/2025 hiện do chị V trực tiếp nuôi dưỡng và bà phụ giúp chăm sóc khi chị V đi làm, chị V về nhà bà sinh sống từ Tết Nguyên đán 2026, anh T cũng thường về thăm con, phụ giúp mua tả sữa. Việc chị V và anh T ly hôn tuỳ thuộc vào ý kiến của chị V, anh T do bà đã khuyên răn nhiều lần, bà sẽ tiếp tục phụ giúp chăm sóc con chung của chị V, anh T. Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng chị V thì bà không biết.
Ý kiến của Viện kiểm sát:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với nguyên đơn đã chấp hành đúng, đầy đủ quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa chấp hành đúng, đầy đủ quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, cụ thể là tại các lần hoà giải thì bị đơn vắng mặt, cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết: Về hôn nhân: Giải quyết cho chị Nguyễn Thị Thảo V ly hôn với anh Trần Thanh T. Về con chung: Giao con chung tên Trần Thanh S, sinh ngày 29/8/2025 cho chị Nguyễn Thị Thảo V trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Trần Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được quyền ngăn cản. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xét. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thảo V phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thảo V yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long giải quyết ly hôn, nuôi con chung với anh Trần Thanh T cư trú ấp B, xã N, tỉnh Vĩnh Long. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án có quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Vĩnh Long.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thảo V có đơn xin vắng mặt ngày 05/6/2026, bị đơn anh Trần Thanh T được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng bị đơn vẫn vắng mặt lần thứ hai không lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Người làm chứng bà Bùi Thị Kim S vắng mặt tại phiên tòa nhưng bà Sương đã có lời khai trực tiếp với Tòa án và xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng.
Chị Nguyễn Thị Thảo V và anh Trần Thanh T thành hôn có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Long Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long (Nay là xã Song Phú, tỉnh Vĩnh Long) cấp giấy chứng nhận kết hôn số 07 vào ngày 09/4/2024 nên xem quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh T là hợp pháp.
Xét trong quá trình chung sống vợ chồng giữa chị V và anh T thời gian đầu sống hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và vợ chồng ly thân từ tháng 01/2026 đến nay không hàn gắn được. Sau khi Tòa án thụ lý đã ra giấy triệu tập hợp lệ để Toà án hoà giải giúp đỡ đoàn tụ nhưng anh T vắng mặt không lý do. Như vậy cho thấy tình cảm giữa chị V và anh T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xét yêu cầu ly hôn của chị V là có cơ sở phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Xét thấy con chung tên Trần Thanh S, sinh ngày 29/8/2025 hiện đang sống trực tiếp với chị V, chị V yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh T không có ý kiến gì về việc chị V yêu cầu nuôi con chung. Xét con chung chưa đủ 12 tháng tuổi, cần sự quan tâm chăm sóc của mẹ. Hội đồng xét xử xét giao con chung cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở là phù hợp Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thảo V không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thảo V phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và tại Điều 6; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp theo quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thảo V.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Thảo V được ly hôn với anh Trần Thanh T.
1.2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Thanh S, sinh ngày 29/8/2025 cho chị Nguyễn Thị Thảo V trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Trần Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thảo V không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Thảo V phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn. Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) chị V đã nộp theo biên lai thu số 0005548 ngày 27 tháng 3 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Chị V đã nộp đủ tiền án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 6, 7, 36 và Điều 72 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND khu vực 2 – Vĩnh Long; - Phòng THADS khu vực 2 – Vĩnh Long; - UBND xã Song Phú, tỉnh Vĩnh Long) (Giấy chứng nhận kết hôn số 17 ngày 09/4/2024); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Thuý An |