- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 212/2023/HS-ST Ngày 14-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị An
2. Ông Vũ Việt Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Quyên, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Lại Văn Thịnh, Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 199/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo: Nguyễn Văn B, sinh ngày 01/9/1987 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn LT, xã T A, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệ p: Lao độ ng tự do ; trình độ học vấn: 04/12; dân tộ c : Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quố c tị ch : Việ t Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Đinh Thị T; vợ: Nguyễn Thị D, Có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 93/2018/HSST ngày 25/6/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/01/2019. Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 15/8/2018. Bị cáo tạm giữ từ ngày 26/8/2023 đến ngày 01/9/2023 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình. (có mặt).
* Người chứng kiến:
1. Anh Phạm Ngọc B1, sinh năm 1976. Nơi cư trú: Thôn TS, xã Vũ Chính, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
2. Anh Văn Đức B2, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Thôn HN, xã TS, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
NỘ I DUNG VỤ Á N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 26/8/2023, Nguyễn Văn B đi xe ôm của một người không quen biết từ nhà đến khu vực ngõ 02, đường Hoàng Công Chất, tổ 04, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình thì gặp và mua của một người nam giới khoảng 25 tuổi không biết tên, địa chỉ 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. B cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải rồi đi tìm chỗ để sử dụng. Đến 11 giờ cùng ngày, Bắc đi đến khu vực ngõ 02, đường Hoàng Công Chất, tổ 11, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình thì bị tổ công tác Công an thành phố Thái Bình phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Phạm Ngọc B1 và anh Văn Đức B2, B tự giác đưa từ lòng bàn tay phải giao nộp cho tổ công tác 01 gói được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đó là Heroin, Bắc mua về để sử dụng.
Tại kết luận giám định số 1296/KL-KTHS(MT) ngày 29/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật quản lý của Nguyễn Văn B gửi giám định là ma túy, loại Heroin, có khối lượng 0,1331gam.
Cáo trạng số 207/CT-VKSTPTB ngày 25/10/2023 của Việ n kiể m sá t nhân dân thà nh phố Thá i Bì nh, tỉnh Thái Bình truy tố ra trư ớc Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Văn B về tộ i “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điề u 249 Bộ luậ t Hì nh sự .
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn B khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu; đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 15 tháng đến 21 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: tịch thu tiêu hủy số ma túy thu của bị cáo được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1296/KL-KTHS(MT) của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thái Bình.
Bị cáo Nguyễn Văn B đồ ng ý vớ i tộ i danh Việ n kiể m sá t nhân dân thà nh phố Thá i Bì nh, tỉnh Thái Bình đã truy tố , không trình bày lời bào chữa và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo Nguyễn Văn B nói lời sau cùng: Đề nghị Hộ i đồ ng xé t xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬ N ĐỊ NH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nộ i dung vụ á n , căn cứ và o cá c tà i liệ u trong hồ sơ vụ á n đã đượ c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hà nh vi, quyế t đị nh tố tụ ng củ a cơ quan tiến hành tố tụng, Điề u tra viên, Kiể m sá t viên trong quá trì nh điề u tra, truy tố , xét xử đã thự c hiệ n đú ng về thẩ m quyề n, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự . Quá trình điề u tra và tạ i phiên tò a , không ai có ý kiế n hoặ c khiế u nạ i về hà nh vi , quyế t đị nh củ a Cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng, ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng. Do đó , các hành vi, quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng , ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng đã thự c hiệ n đề u hợ p phá p.
[2]. Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 26/8/2023, tại khu vực ngõ 02, đường Hoàng Công Chất, tổ 11, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an thành phố Thái Bình phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn B có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy, loại Heroin, có khối lượng 0,1331 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của Nguyễn Văn B là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạ m quy đị nh q uản lý chất gây nghiện của nhà nước . Nghiện ma tuý là tệ nạn đang được đấu tranh bài trừ ra khỏi đời sống xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, có nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: …c) Heroin, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; …”. Như vậy, hành vi trên của Nguyễn Văn B đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3]. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Nguyễn Văn B không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.
[6]. Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, số ma túy thu giữ trong vụ án còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cầ n tị ch thu tiêu hủy.
[8]. Về nguồ n gố c số ma túy, bị cáo Nguyễn Văn B khai mua tại khu vực ngõ 02, đường Hoàng Công Chất, tổ 04, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình của một người nam giới khoảng 25 tuổi không biết tên, địa chỉ, nên Cơ quan cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.
[9]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp á n phí hì nh sự sơ thẩ m theo quy đị nh của pháp luật.
[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47; Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 01 (một) năm 01(một) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 26/8/2023).
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu gi ữ của Nguyễn Văn B còn lại sau giá m đị nh đư ợc niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1296/KL-KTHS (MT) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
(Vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cụ c Thi hành án dân s ự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/10/2023).
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn B phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn B có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày14/11/2023).
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự. Nơi nhậ n:
TM. HỘ I ĐỒ NG XÉ T XỬ SƠ THẨ M
- Bị cáo;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
- VKSND tỉnh Thái Bình;
- Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
- Cơ quan cảnh sát điều tra, Cơ quan THAHS
Nguyễ n Thị Thanh Công an TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
- Nhà tạm giữ/Trại tạm giam Công an TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
- Sở Tư pháp Thái Bình;
- Lưu hồ sơ vụ á n.
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
| Nơi nhậ n: - Bị cáo; - VKSND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - VKSND tỉnh Thái Bình; - Cơ quan điều tra và Cơ quan THA hình sự Công an TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Nhà tạm giữ/Trại tạm giam Công an TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Lưu hồ sơ vụ á n. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễ n Thị Thanh TM. HỘ I ĐỒ NG XÉ T XỬ SƠ THẨ M THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễ n Thị Thanh |